Sau khi chủ nghĩa Cộng sản
sụp đổ, cái huyền thọai về cuộc Đại cách
mạng được coi là '' một sự kiện lịch sử không thể tránh được'' không
còn giá trị gì cả. Cái mốc thời điểm 1917 nay chỉ còn là một sự kiện
lịch sử bình thường. Rất tiếc là xã hội chúng ta chưa có sử gia
nào sẵn
sàng đứng lên phá vỡ cái huyền thoại của năm khởi đầu cho tương lai của
dân Nga : Sống trong hạnh phúc hay nhận lấy thảm họa.
Một sử gia đương thời người Nga nhận định rằng các cuộc bút chiến về
cuộc cách mạng 1917 sau 80 năm vẫn còn diễn ra.
Theo quan điểm của nhóm chủ trương tự do, cuộc cách mạng tháng 10 chỉ
là cuộc đảo chánh . Một nhóm người cuồng tín, mặc dù không có cơ chế
căn bản nào trong xã hội Nga vào thời đó, nhưng có tổ chức, đã khéo léo
dùng bạo lực trấn áp một xã hội thụ động. Vì không hiểu được chiều sâu
của xã hội và lịch sử, nhiều người, trong đó có các sử gia , giới trí
thức và những người lãnh đạo nước Nga hậu Cộng sản đã đánh giá cuộc
cách mạng tháng 10 như là một bước đi lạc hướng của một xã hội
Nga phong phú , cần cù và đang tiến trên con đường dân chủ.
Một nhóm khác, gồm các thành phần ưu tú, một giai cấp được ưu đãi dưới
thời Xô Viết, cương quyết đoạn tuyệt với cái gọi là '' dấu ngoặc quái
đản chủ nghĩa Xô Viết'', thể hiện dưới chiêu bài giải phóng xã hội.
Thành phần này đã tỏ ra hối hận trong suốt thới kỳ '' đổi mới '' [
1985-1991] ở Nga, khi họ biết được sự thật vô cùng đau đớn đã xảy
ra dưới thời Staline.
Nếu cuộc đảo chính năm 1917 do những người Bônsêvich chủ xướng, được
coi như là một tai nạn, thì chính nhân dân Nga là nạn nhân .
Với nhận định này, những nhà viết sử Liên Sô đã cố gắng giải thích cuộc
cách mạng tháng 10 năm 1917 là kết quả hiển nhiên của một sự kiện có
thể tính trước, phải xảy ra. Nó nằm trong lịch trình giải phóng
của khối đông dân chúng cùng với ý thức chủ nghĩa Bônsêvich. Do cách
thay đổi các từ, những nhà viết sử đã biến các cuộc bút chiến về biến
cố 1917 trở thành một sự kiện lịch sử hợp pháp của chế độ Sô Viết. Nếu
quả thật cuộc Đại cách mạng tháng 10 có nhiệm vụ hoàn thành lịch sử,
biểu tượng cho một thông điệp giải phóng các dân tộc trên thế giới, thì
nó phải chống lại những sai lầm do Staline gây ra. Ngay nay, chế
độ Sô Viết đã sụp đổ, chứng tỏ tính cách '' bất hợp pháp '' của cuộc
cách mạng tháng 10. Biện chứng Mát Xít trở thành tầm thường. Nói theo
luận điệu Bônsêvich, biện chứng Mat Xít bị ném vào thùng rác lịch sử.
Tuy vậy, cũng giống như cái sự sợ hải, cái ký ức tầm thường vẫn
còn đeo dai dẵn bên người, bên trời Tây nhiều hơn ở Liên Bang Sô Viết
cũ.
Nếu chúng ta không chọn hai khuynh hướng tự do và Mát Xít thì sẽ có
khuynh hướng thứ ba. Khuynh hướng này đặt ý thức hệ lịch sử ra ngoài
cuộc cách mạng. Họ cho rằng đó là cuộc nổi dậy của một nhóm nhỏ quần
chúng.
Trong số rất nhiều câu hỏi được đặt ra về năm 1917, các sử gia đã bác
bỏ những sơ đồ đơn giản của trường phái tự do.
Chính sách '' quân sự hoá
nền kinh tế'' có liên hệ gì đến việc đế quốc
Nga tham đự vào cuộc thế chiến thứ nhất. Phải chăng hiện tượng bạo lực
xã hội là môi trường phát sinh bạo lực chính trị , và từ đó chống lại
xã hội ? Tại sao , nếu cho rằng đó là cuộc cách mạng quần chúng
có tính
cách sâu rộng, lại có thể để cho một nhóm nhỏ người độc tài, nhiều tham
vọng lãnh đạo ?
Ngược thời gian, nghiên cứu các công trình sử liệu tranh chấp về quan
điểm, chúng ta có thể coi cuộc cách mạng tháng 10 là tụ điểm của hai
phong trào. Một phong trào có chuẩn bị kỹ lưỡng để nắm lấy chính quyền
do một đảng phái có tổ chức, có hệ tư tưởng chủ động. Cuộc cách mạng xã
hội đã diễn ra theo nhiều giai đoạn và dưới nhiều hình thức khác nhau.
Khởi đầu là cuộc khởi nghĩa của nông dân. Đó là một tập hợp đông đảo
của các tầng lớp nông dân sống ở miền quê, có nguồn gốc lâu đời trong
lịch sử Nga. Không những họ chống đối giai cấp địa chủ mà còn phẫn nộ
với những người ở sống trong thành phố, những người sống bên ngoài nông
thôn và những người tham gia vào chính quyền.
Vào mùa hè và mùa thu năm 1917, họ đã hoàn toàn thắng lợi. Chu kỳ
nổi loạn khởi đầu từ năm 1902, bước vào đĩnh cao năm 1905-1907 và hoàn
tất vào năm 1917. Cuộc cách mạng ruộng đất giữa những người nông
dân và thành phần địa chủ về vấn đề chia đất canh tác đang ở trong giai
đoạn quyết định. Kế hoạch canh tác dựa trên nhân khẩu như bấy lâu nay
chờ đợi đã diễn ra để cắt đứt ảnh hưởng của thành thị đối với giới nông
dân miền quê. Thời điểm 1917 trở thành cái mốc của các chu kỳ kế tiếp.
Các cuộc nổi dậy vào những năm 1918-1922 rồi vào cao điểm của những năm
1929-1932 , chính sách tập thể hoá nông nghiệp hoàn toàn thất bại.
Trong năm 1917,
song song với cuộc cách mạng của nông dân, lại
diễn ra sự tan rã hàng ngũ quân đội trên 10 triệu . Đó là tập hợp của
các thành phần nông dân đi quân dịch theo quy chế 3 năm. Họ chẳng biết
đi quân dịch để làm gì và tại sao họ phải thi hành. Các Tướng lãnh phàn
nàn về tinh thần ái quốc của những quân nhân này. Họ không có ý thức
chính trị và cũng chẳng hiểu biết gì về trách nhiệm công dân.
Lực lượng căn bản thứ ba xuất thân từ một thiểu số của xã hội, chỉ có
thể đại diện cho 3 % dân số, nhưng họ tập trung ở thành phố lớn, có ý
thưc chính trị. Đó là giới công nhân thợ thuyền. Hãng xưởng là
nơi phát sinh những mâu thuẫn xã hội. Cuộc cách mạnh kỹ thuật ở đầu thế
kỷ đã phát sinh ra một phong trào đòi hỏi quyền lợi cho tầng lớp công
nhân thợ thuyền. Khẩu hiệu mang tính chất cách mạng của họ là : ''
quyền kiểm soát thuộc về giới thợ thuyền, chính quyền thuộc về Sô Viết.
''
Phong trào thứ tư cũng là tập thể cuối cùng tham dự vào công cuộc giải
phóng đó là những dân tộc thuộc địa của Nga Hoàng đứng lên giành lại
độc lập.
Mỗi phong trào, mỗi nhóm mang lấy màu sắc riêng tư. Từ tính năng động,
tổ chức nội bộ, thời gian hoạt động cho đến mục đích,...mỗi tổ chức
họat động riêng rẽ. Nó không biểu tượng những khẩu hiệu tuyên truyền
của Bônsêvich,: Nó cũng chẳng mang tính chất chính trị của đảng phái
này.
Vào năm 1917, các lực lượng này đã góp công rất lớn vào sự phá hủy hệ
thống chính quyền Nga Hoàng. Trong khỏang thời gian rất ngắn, vào cuối
năm 1917, những người thiểu số Bônsêvich hoạt động lẻ loi trong
đám đông quần chúng. Mục tiêu tước mắt cũng như chiến lược lâu dài của
những người Bônsêvich hoàn toàn khác với các đoàn thể chung
quanh. Nhưng tạm thời họ đứng chung trong một chiến tuyến để tiến
hành cuộc đảo chính và thực hiện cuộc cách mạng xã hội, trước khi xảy
ra sự xung đột trong nhiều thập niên sau này.
Mùa Thu 1917, các phong trào xã hội cũng như các dân tộc thuộc địa đứng
lên đòi tự trị trong một diều kiện lịch sử vô cùng thuận tiện. Một mặt
do tình hình chiến tranh xảy ra tòan diện của cuộc thế chiến thứ nhất;
Mặt khác do sự thoái hoá về chính trị, khủng hoảng kinh tế , xã hội phá
sản của nước Nga. Cuộc thế chiến thứ nhất không những chẳng đem
lại cho Nga Hoàng sự thống nhất lãnh thổ mà trái lại còn làm lung lay
thành quả cuộc cách mạng 1905-1906. Chiến tranh đã làm kiệt quệ
nền kinh tế ,non trẻ , chưa kịp hiện đại hoá vì lý do vốn tư bản cũng
như chuyên viên kỹ thuật ngoại quốc. Chiến tranh đã dựng lại sự cách
biệt giữa một nước Nga kỹ nghệ hoá và một nước Nga nông nghiệp. Về mặt
chính trị, cái hố ngăn cách giữa nông thôn và thành thị mỗi lúc một
sâu.
Nga Hoàng dự trù cuộc chiến sẽ kết thúc sớm. Nhưng khi các eo biển bị
phong tỏa, nước Nga đã trở thành một quốc gia hoàn toàn lệ thuộc vào
viện trợ ngoại quốc. Từ năm 1915, các vùng đất phía Tây của Nga
đã bị liên quân Đức-Áo-Hung chiếm đóng. Do vậy nguồn cung cấp từ
BaLan, một quốc gia phát triễn kỹ nghệ mạnh nhất trong vùng, bị cắt
đứt. Nước Nga không còn sức để theo đuổi cuộc chiến. Ngay từ năm 1915,
hệ thống hỏa xa bị ngưng trệ. Đồ phụ tùng không có để thay
thế vì phải nhập từ nước ngoài. Việc chuyển hướng công nghệ phục vụ cho
chiến tranh đã làm xáo trộn sản phẩm kỹ nghệ cung cấp cho xã hội. Hậu
phương thiếu nhu yếu phẩm, hãng xưởng thiếu nhân công. Nạn lạm phát gia
tăng. Ở nông thôn hiện tượng suy sụp trầm trọng hơn. Ngưng cấp phát tín
dụng nông nghiệp. Chính quyền trưng thu ruộng đất. Nông dân bị động
viên vào quân đội. Nông sản phẩm bị trưng dụng. Các hàng hoá trao đổi
giữa nông thôn và thành phố sa sút. Tất cả những sự kiện này dẫn đến sự
trì trệ quá trình hiện đại hoá các cơ sở nông nghiệp do Thủ Tướng Pior
Stolypin nhen nhúm từ năm 1906. Ông bị ám sát vào năm 1910. Trong suốt
ba năm chiến tranh, nông dân đã coi chính quyền như kẻ thù. Nhất là
quần chúng nông thôn. Hằng ngày trong quân đội quân nhân bị đối
xử tồi tệ. Họ cảm thấy như là kẻ nô lệ hơn là những người dân thi hành
nghĩa vụ. Xung đột giữa sĩ quan và quân nhân dưới quyền gia tăng. Thêm
vào đó, quân Nga thua liên tục trên các chiến trường đã làm gỉam uy tín
chính quyền.
Bản chất bạo động của thời xa xưa vẫn còn hiện diện ở nông thôn. Nó đã
bộc phát dữ dội vào những năm 1902-1903 và giờ đây nó xuất hiện rõ ràng
vào năm 1917.
Chính quyền thật sự mất quyền kiểm soát kể từ năm 1915. Tại nhiều
nơi, nhiều uỷ ban và hiệp hội tự đứng quản lý sinh hoạt hằng ngày thay
chính quyền. Như săn sóc các thương binh từ các mặt trận đưa về. Chính
quyền phải khuyến khích và yểm trợ cho một phong trào lớn đang được
diễn ra từ cơ sở hạ tầng cho đến cơ cấu tối cao để chận đứng và tiêu
diệt các mầm móng khác đang tìm cách phá hoại cơ chế xã hội Nga lúc bấy
giờ.
Thay vì phải liên kết ngay với các phần tử tiến bộ trong Xã hội, Nga
Hoàng Nicolas II cứ ôm lấy chế độ Quân Chủ Bình Dân.
Nga Hoàng muốn duy trì mình là người ''cha '' của Nông dân. Nga
Hoàng đích thân giữ chức Tổng Chi Huy Quân Đội. Đó là một hành động tự
sát của một chế độ chuyên chế. Tổng hành dinh đóng ở Mongilev bị
cô lập. Việc nước kể từ năm 1915 nằm trong tay Hoàng Hậu
Alexandra, một người đàn bà gốc Đức, không được lòng dân. Đến năm
1916, chính quyền gần như tan rã. Quốc Hội Douma, do dân bầu nhưng chỉ
là Đại diện cho một thiểu số dân, hằng năm chỉ họp vài tuần
. Chính phủ và Bộ trưởng thay đổi liên tục. Dân chúng không tin
tưởng vào Quốc Hội và Chính Quyền.
Trong lúc khủng hoảng chính trị, vụ ám sát Raspoutine vào
đêm 31 tháng 12 năm 1916 đã làm sôi nổi dư luận quần chúng. Các
cuộc biểu tình đã một thời lắng dịu vì chiến tranh, nay có dịp tái bộc
phát, sâu rộng hơn. Các cuộc nổi dậy lan rộng trong hàng ngũ quân
đội. Hệ thống tiếp tế tan rã.
Số phận của chính quyền thực sự đã được quyết định từ tháng 2 năm
1917.
Sau năm ngày biểu tình liên tục do giới công nhân thợ thuyền chỉ đạo,
cùng với cuộc nổi loạn của vài ngàn quân nhân trong thành phố
Petrograd, Chế Độ Nga Hoàng hoàn toàn sụp đổ. Bộ Tổng Tham Mưu không
dám huy động quân đội để đàn áp các cuộc nổi loạn như vậy trong
thành phố. Chính quyền thiếu chuẩn bị chính trị để dàn xếp các đảng
phái đối lập.. Nội bộ đảng phái chia rẻ trầm trọng. từ những
người Tự Do của Đảng Dân Chủ Lập Hiến cho đến những người dân chủ Xã
Hội.
Cuộc nổi loạn bắt đầu từ ngoài đường phố và kết thúc trong văn phòng
của Điện Tauride, trụ sở Quốc Hội Douma . Những Đảng viên Tự Do
run sợ trước những người ngoài đường phố. Trong khi đó cánh Xã Hội lại
coi đây là cuộc cách mạng của giai cấp Tư Sản. Họ cho rằng cứ theo thời
gian, cuộc cách mạng tư sản sẽ dẫn đến cuộc cách mạng xã hội toàn diện.
Sau nhiều cuộc thương thuyết, các phe đối lập thỏa hiệp một công thức
chưa từng xảy ra : Thành lập hai chính quyền. Một bên là Chính Quyền
Lâm Thời, có nhiệm vụ tái lập trật tự để tiến tới một nước Nga Tư Bản ,
liên kết với Đồng minh Anh, Pháp. Phía bên kia là chính quyền Sô
Viết của thành phố Petrograd, thuộc phe Xã Hội . Họ tự nhận là những
người nối tiếp truyền thống SôViết Saint Petesbourg vào năm 1905, Đại
diện cho khối quần chúng cách mạng.
Từ ngày 2 tháng 3 đến ngày 25 tháng 10 năm 1917 đã có 3 chính phủ
lâm thời liên tiếp thay đổi. Tất cả đều tỏ ra bất lực trong việc giải
quyết các vấn đề do chế độ cũ để lại: giải quyết khủng hoảng kinh tế;
tham dự cuộc chiến; giải quyết đời sống cho giới công nhân thợ thuyền;
vấn đề ruộng đất,..
Nhóm Tự Do Dân Chủ Lập Hiến chiếm đa số trong hai chính phủ đầu tiên.
Nhóm Mensêvich và nhóm Xã Hội chiếm đa số trong chính phủ kỳ ba. Họ
thuộc thành phần trí thức tiến bộ của một xã hội dân sự trong
thành phố. Họ tin tưởng một cách mù quáng vào nhân dân. Họ cũng sợ các
lực lượng núp trong bóng tối đang bao vây họ. Họ không biết những
người trong bóng tối là ai và âm mưu những gì ?
Đa số những người mới lên cầm quyền cảm thấy cuộc cách mạng diễn ra ôn
hoà . Họ để cho cao trào đòi hỏi dân chủ làm sụp đổ chế độ Nga Hoàng và
cố tạo ra một nước Nga Tự Do hơn cả các quốc gia trên thế giới. Đó là
ước mơ của những người quá lý tưởng như ông Hoàng LVOV, từng giữ chức
Thủ Tướng trong hai chính phủ đầu tiên.
Trong bản tuyên cáo đầu tiên ông Hoàng LVOV nói rằng bản chất cuả
dân Nga là tinh thần dân chủ toàn diện. Tinh thần này sẵn sàng
hòa hợp với các nước khác để cùng tiến lên tiếp nối con đường của cách
mạng Pháp, đặt căn bản trên các nguyên tắc lớn : Tự Do Bình Đẳng
và tình nghĩa anh em.
Tin tưởng vào các niềm tin này, Chính phủ lâm thời ban hành các biện
pháp dân chủ . Chính Phủ nhìn nhận các quyền tự do căn bản như
bãi bỏ các đạo luật kỳ thị sắc tộc, tôn giáo; Cho phổ thông đầu phiếu;
Nhìn nhận quyền tự quyết của các sắc dân trong cộng đồng Nga; cho các
quốc gia Ba Lan, Phần Lan quyền tự trị.. Qua các biện pháp này, chính
phủ hy vọng sẽ tạo sự đoàn kết trong dân chúng , cùng nhau chiến
thắng cuộc chiến, tiến tới hợp tác với các nước dân chủ Đồng Minh Tây
Phương. Vì quá lo cho vấn đề pháp lý, chính phủ lâm thời đã khước từ
một số biện pháp căn bản để bảo đảm cho tương lai trước khi triệu tập
Quốc Hội vào mùa Thu năm 1917. Vì chỉ giữ vai trò lâm thời, Chính Phủ
không giải quyết các vấn đề hệ trọng như vấn đề Hòa Bình, vấn đề ruộng
đất. Và vì cuộc chiến còn đang diễn ra, nên Chính phủ Lâm Thời
trong thời gian ngắn ngũi, cũng chẳng giải quyết được gì cho cuộc khủng
hoảng kinh tế của nước Nga. Tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm vẫn diễn
ra hằng ngày. Vấn đề tiếp tế lương thực, và sinh hoạt trao đổi thực
phẩm giữa thành thị và nông thôn bị tắc nghẽn. Hãng xưởng đóng cửa; Con
số thất nghiệp của giới công nhân thợ thuyền gia tăng. Tất cả những sự
kiện trên làm cho tình hình xã hội cáng lúc càng căng thẳng .
Đứng trước thái độ '' chờ thời '' của Chính Phủ Lâm Thời, nhiều tổ chức
xã hội dân sự tự động đứng ra giải quyết vấn đề. Trong vòng vài
tuấn lễ đã có hàng ngàn tổ chức Sô Viết, ủy ban công xưởng , ủy ban các
khu phố, các đội tự vệ vỏ trang công nhân , mệnh danh là các Vệ Binh
Đỏ, các uỷ ban nông dân, các uỷ ban quân nhân,.. tự thành hình và tự
hành động. Các cuộc hội thảo, các quyết định, các yêu sách, những đòi
hỏi của quần chúng quay quanh về vấn đề chính trị. Đúng là sinh
hoạt giải phóng. Cuộc tranh đấu mỗi ngày mỗi lớn mạnh hơn.
Cuộc cách mạng tháng hai này mở đầu cho các sự câm thù và các việc
chiếm đoạt đất đai đã ấp ũ từ lâu. Hầu hết các yêu sách mang tính chất
chính trị của các tổ chức xã hội đã được chính phủ Lâm thời chấp thuận.
Giới công nhân thợ thuyền quay cuộc đãu tranh qua mặt trận kinh
tế. Họ đòi hỏi mỗi ngày làm việc 8 tiếng đồng hồ. Bãi bỏ chế độ
tiền phạt vạ. Thành lập các ủy ban bảo đảm an sinh xã hội và tăng
lương. Đòi hỏi thay đổi mối quan hệ xã hội giữa chủ nhân và công nhân.
Thành lập uỷ ban cứu xét đơn xin việc làm và cho nghỉ việc. Họ
đòi hỏi quyền kiểm soát trong sản xuất. Nhưng muốn thực hiện quyền kiểm
soát của công nhân trong các nhà máy, họ đòi phải có một chính phủ
khác. Đó là '' Chính quyền Sô Viết ''. Chỉ có cơ chế này mới có thể thi
hành các biện pháp cấp tiến, có quyền trưng thu các công xưởng, xí
nghiệp, đưa đến chính sách quốc hữu hóa các công cụ sản xuất. Yêu
sách này chưa ai hề nghe biết vào đầu năm 1917. Thế mà chỉ sáu
tháng sau, việc quốc hữu hóa được nói đến thường xuyên.
Trong cuộc cách mạng tháng hai và tháng mưới năm 1917, những người lính
gốc nông dân với một quân số 10 triệu, họ đã giữ một vai
trò quyết định. Quân Hoàng Gia tan rã mau chóng vì lính đào ngũ
và không muốn chiến tranh. Ngay từ ngày đầu, Chính Phủ Lâm Thời
ra tuyên cáo số 1 về '' Hiến chương của quân nhân''. Theo tuyên cáo
này, quân nhân không còn bị ràng buộc bởi luật lệ của chính quyền
cũ. Quân nhân có quyền chọn lấy vị quan quan cho nhóm mình hay
không cần sĩ quan cũng được. Quân nhân có quyền tham gia trực tiếp vào
các chiến lược quân sự. Một sự kiện chưa hề xảy ra. Nhưng đó là các
luật lệ lót đường cho chế độ Bônsêvich. Theo nhận định của Đại Tướng
Broussilov, thì quân nhân chẳng biết gì về chủ nghĩa cộng sản, chủ
nghĩa vô sản và hiến pháp. Họ muốn có hoà bình, họ muốn được chia đất
đai canh tác, được tự do sinh sống không cần đến pháp luật, không có sĩ
quan mà cũng chẳng có địa chủ. Chủ nghĩa Bônsêvich của họ, trên thực tế
là sự khát khao lớn để được có tự do, không bị ràng buộc . Đó là chủ
nghĩa vô chính phủ.''
Tháng 6 năm 1917, các cuộc phản công của quân Nga hoàn toàn thất bại.
Quân Nga bắt đầu tan rã. Hàng trăm sĩ quan bị lính bắt giam vì
tình nghi là các phần tử phản cách mạng. Có một số sĩ quan bị ám sát.
Số lính đào ngũ gia tăng hằng ngày. Sang đến tháng 8, tháng 9, hằng
ngày có trên hàng chục ngàn lính đào ngũ. Những người lính gốc nông dân
này chỉ mong có dịp là trở về miền quê của họ để khỏi mất phần chia đất
đai và gia súc thuộc sở hữu của các địa chủ. Từ tháng 6 tháng 10 năm
1917 có trên hai triệu quân nhân quá mệt mỏi vì chiến tranh và vì thiếu
ăn lâu ngày trong các chiến hào. Họ quyết định rời bỏ hàng ngũ, mang
theo vũ khí, trở về quê, gây thêm rối loạn ở những vùng đó.
So với các cuộc nổi loạn vì đất đai của những năm 1905-1906, thì các
cuộc nổi loạn vào mùa hè 1917 xảy ra rất ít. Và chính quyền còn làm chủ
được tình hình. Sau khi nghe tin Nga Hoàng thoái vị như họ chờ đợi, các
hội đồng nông thôn mở các phiên họp làm thỉnh nguyện thư, trình bày
nguyện vọng và những lời phê phán của họ. Yêu sách đầu tiên là đất đai
phải thuộc quyền sở hữu của những người đang canh tác. Phải phân chia
đất đai của các địa chủ hiện đang bỏ trống. Họ yêu cầu xét lại thuế má,
giảm tô. Dần dần, nông dân tự thành lập ủy ban điền địa từ đơn vị xóm,
thôn đến làng, xã. Họ cử các người có học như thầy giáo trong làng, các
vị linh mục, các chuyên viên nông nghiệp lãnh đạo các uỷ ban. Họ đề cử
các y tá săn sóc sức khỏe cho nông dân.
Nhưng từ tháng 5, tháng 6 năm 1917, các ủy ban trở nên cứng rắn hơn.
Các ủy ban nông nghiệp khởi đầu tước đoạt các nông cụ và gia súc của
các địa chủ. Họ tự động chiếm hữu các vùng đất không canh tác và các
khu rừng của tư nhân. Cuộc chiến đãu khởi đầu từ thời tổ tiên xa xưa
của họ. Nhờ cuộc cải cách ruộng đất của cựu Thủ Tướng Stolypine, một số
người dân trước kia đã ra công khai thác ruộng đất và lâu dần trở nên
giàu có, sơ hữu một số đất đai. Trước cuộc cách mạng tháng 10, những
người nông dân giàu có, hay còn gọi là địa chủ này là đối tượng đãu
tranh của nhóm người Bônsêvich. Giới địa chủ bị Bônsêvich kết tội là
các thành phần bóc lột, cho vay nặng lãi, những tên tư sản nông thôn,
thành phần hút máu nhân dân,.. Những người Bônsêvich kêu gọi địa chủ
hiến dâng ruộng đất, tài sản, dụng cụ sản xuất của họ vào qũy cộng đồng
để trở về với cộng đồng nông thôn. Họ cũng hưởng theo nguyên tắc
bình đẳng được phân chia theo khẩu phần ăn.
Vào mùa hè năm 1917, tình trạng ở nông thôn trở nên căng thẳng hơn khi
các người lính đào ngũ mang theo vũ khí trở về làng xóm. Khi nhận
ra chính phủ không giữ lời hứa phân chia đất đai gia súc , họ nổi
loạn tấn công vào các trang trại lớn trong đó có chứa các nông cụ hiện
đại, thuộc quyền sở hữu của giới quí tộc. Họ đập phá, nhục mạ và
đuổi các chủ gia ra khỏi làng xóm.
Tại các vùng ở Ukraine và các địa phương thuộc khu vực Tambov, Penza,
Voronej, Saratov, Orel, Toula, Riazan, đã có hàng ngàn nông trại, khu
nhà bị đốt phá và hàng trăm chủ gia bị tàn sát.
Đứng trước tình trạng '' vô chính phủ'', giới chủ nhân, địa chủ cùng
với các lãnh tụ của các đảng phái có khuynh hướng tự do cùng quyết định
phải xử dụng quân đội để dàn xếp . Họ đề nghị Tướng Kornilov đứng ra
thành lập chính phủ. Nhưng đề nghị này không được Chính Phủ Lâm Thời do
ông Alexandre Kerenski chấp thuận. Người ta chờ đợi cuộc đảo chánh
nhưng cuộc đảo chánh do Tướng Kornilov chủ trương xảy ra trong 3 ngày
kể từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 8 năm 1917 bị thất bại. Tình hình chính
trị cũng như các vấn đề xã hội trở nên bi đát hơn. Chính phủ lâm thời
không còn kiểm soát được bộ máy thông tin của nhà nước. Trong lúc đó,
tại các cơ quan đầu não xảy ra các vụ tranh chấp quyền hành giữa hai
phe dân chính và quân sự. Phe quân nhân muốn nắm trong tay các quyền Tư
Pháp, Hành Chánh, và Quân đội.
Phải nhận rằng có tiến bộ trong các hoạt động của các tổ chức xã hội
dân sự. Phải chăng họ đã bị Bônsêvich hoá ? Điều này không có gì chắc
chắn. Mặc dù cùng dùng các khẩu hiệu '' Công nhân kiểm soát các xí
nghiệp '', hay '' Tất cả quyền lực thuộc về Sô Viết'',.. nhưng mỗi bên
hiểu và giải thích theo lối suy tư của mình. Trong quân đội, hiện tượng
Bônsêvich hóa thể hiện sự khát khao hòa bình của các người lính.
Họ tham dự cuộc chiến khá lâu và số thương vong lên quá cao , so với
tất cả cuực chiến trong quá khứ.
Với tập thể nông dân, cuộc cách mạng của họ có cùng mục đích với lực
lượng cách mạng xã hội, thuận lợi cho việc chia đất chia đai. Nhưng đối
với những người Bônsêvich, mục đích của họ là quốc hữu hóa tất cả đất
đai, thành lập đơn vị tập thể lớn để sản xuất nông sản. Những
người ở thôn quê không hề hiểu biết gì cái tên Bônsêvich. Những người
lính đào ngũ trở về làng đã kể cho họ nghe những gì đã xảy ra. Trong
khi đó những người Bônsêvich với con số đoàn viên không mấy chính xác
một đến hai trăm ngàn trong tháng 10 năm 1917 ,đi tuyên truyền
trong quần chúng dưới khẩu hiệu '' Hòa bình và ruộng đất''.
Nhưng dù sao giữa lúc nước Nga '' vô chính phủ'', quyền lực nhà
nước nằm trong tay các Ủy ban, các hội đoàn xã hội dân sự, các Sô Viết,
.. thì chỉ cần có một hạt nhân nhỏ có tổ chức là có thể chiếm lãnh
quyền hành to lớn. Đó là điều những người Bônsêvich đã làm. Họ đã đạt
mục tiêu nắm lấy chính quyền. Họ đã thành công vào thời điểm đó.
Từ ngày thành lập đảng vào năm 1903, những người Bônsêvich cho
thấy đường lối chính trị của họ khác hẳn với các đảng phái xã hội dân
chủ trong nước Nga cũng như tại các nước ở Âu Châu. Đảng được tổ chức
chặt chẽ, kỹ luật sắt; họ là những người làm cách mạng chuyên nghiệp.
Họ thi hành các biện pháp mạnh, dứt khóat và mau lẹ để giải quyết các
trật tự xã hội hiện hành.
Trận thế chiến thứ nhất đã xác định tính chất đặc trưng của chủ
nghĩa Bônsêvich theo định nghĩa của Lenine. Đặc trưng của khuynh hướng
Lenine là không bao giờ hợp tác với các luồng tư tưởng Xã hội- Dân
chủ. Lý thuyết của Lenine được trình bày trong tác phẩm ''
Chủ nghĩa Đế Quốc, giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa Tư Bản''. Ông cho
rằng cuộc cách mạng sẽ không diễn ra ở các nước giàu có mà là sẽ xảy ra
tại các nước còn đang phát triển, non yếu như nước Nga. Nhưng cũng theo
Lenine, cuộc cách mạng phải do một tổ chức tiên phong, có kỹ luật chặc
chẻ lãnh đạo, tiến tới một chính phủ Độc Tài của những ngườ vô
sản, một nền '' Độc Tài Vô Sản''. Nó sẽ biến cuộc chiến Đế- quốc- hoá
thành một cuộc nội chiến.
Trong bức thơ đề ngày 17 tháng 10 năm 1914 gởi cho ông Alexandre
Chliapnikov, một trong những người lãnh đạo nhóm Bônsêvich, Lenine viết
: '' Chế độ Nga Hoàng thua trận chỉ là một thiệt hại nhỏ. Nhiệm vụ và
công tác của chúng ta là cố kéo dài có phương pháp với mục đích là biến
cuộc chiến tranh này thành cuộc nội chiến. Cho tới giờ phút này chuyện
đó chưa xảy ra. Chúng ta chờ đợi thời cơ chín mùi và thúc đẫy một cách
có hệ thống cho thời cơ chín mùi. Hiện nay chưa cho phép chúng ta hứa
hẹn một điều gì về cuộc nội chiến và cũng chưa làm gì để cho cuộc nội
chiến xảy ra. Chúng ta chỉ có thể tạo ra cơ hội để cho cuộc nội chiến
xảy ra, dù phải chờ đơị. Chúng ta đi về hướng
này.''
Ông nêu lên những mâu thuẫn của Đế Quốc. Cuộc chiến của đế quốc sẽ làm
đảo lộn các danh từ giáo điều Mat-xit. Nó sẽ nổ ra ở đất Nga chớ không
ở nơi nào khác. Trong suốt thời gia của cuộc thế chiến thứ nhất, Lenine
đã vận động lực lượng Bônsêvich tìm mọi cách phát động cuộc nội chiến ở
Nga.
Tháng 9 năm 1917 Lenine nhận định, những ai nhìn nhận cuộc chiến tranh
giai cấp đều phải chấp nhận một cuộc nội chiến. Trong xã hội có giai
cấp, luôn luôn xảy ra cuộc chiến tranh chấp về giai cấp.
Trong cuộc nổi dậy thành công vào tháng 2 năm 1917 không có một nhân
vật cao cấp Bônsêvich nào tham dự cả. Hoặc họ đang lưu đày hay đang ở
nước ngoài. Lenine tiên đoán chính sách dung hoà, thành lập chính phủ
Lâm thời sẽ thất bại. Ở thành phố Petrograd , nhóm Sô Viết đã thành lập
xong Chính Phủ Lâm Thời, gồm các phe Xã hội cách mạng và Xã hội dân chủ
và một số nhóm khác. Trong thời gian từ 20 đến 25 tháng 3 năm 1917,
trong lúc lánh nạn ở Zurich, Thủ Đô Thụy sĩ, Lenine viết bốn lá
thơ gởi về. Tạp chí Sự Thật Pravda chỉ đăng có lá thư thứ nhất. Ba lá
kia không được lên báo vì Lenine đòi nhóm Xô Viết ở thành phố Petrograd
hay đoạn giao với Chính Phủ Lâm Thời để chuẩn bị cho giai đoạn '' Vô
sản cách mạng''.
Theo Lenine, sự xuất hiện các nhóm Sô Viết là dấu hiệu cho thấy đã vượt
qua giai đoạn '' Cách mạng giới trung lưu''. Cho nên không còn
phải chần chờ gì cả. Các tổ chức cách mạng phải nắm lấy chính quyền
bằng cách xử dụng vũ khí, chấm dứt chiến tranh đế quốc, cho dù phải lao
vào một cuộc chiến khác, cuộc nội chiến. Và như vậy tình hình đã diễn
ra theo sách lược cách mạng.
Trong thời gian chiến tranh Nga-Đức, Lenine được chính quyền Đức cấp
cho giấy thông hành di chuyển trên đất Đức. Ông trở về Nga vào ngày 3
tháng 4 năm 1917. Lúc này Lenine vẫn còn quá khích. Trong các viết nổi
tiếng của ông với tựa đề '' Luận Đề Tháng Tư'', ông nhắc lại sự phản
đối của ông về việc thành lập một nền Cộng Hòa Đại Nghị dựa vào nguyên
tắc dân chủ.
Ông bị các nhóm Sô Viết ở thành phố Petrograd phản đối kịch liệt. Nhưng
ngược lại, những người mới gia nhập ủng hộ triệt để. Staline cho rằng
những người chống đối là những người thực tiễn. Trong vài tháng sau,
các phần tử bình dân, trong đó có các nông dân bị động viên đã giữ vai
trò chính. Và do số đông, những người nông, không có ý thức chính trị
tràn ngập cả các giới trí thức và dân thành phố, là những người đã có
kinh nghiệm đãu tranh và có ý thức tổ chức. Chính do cái truyền thống
bạo động phát xuất từ nền văn hóa nông dân, họ không hiểu, hay nói đúng
hơn, họ không bị chủ thuyết giáo điều Maxit chi phối. Họ tiêu biểu cho
thành phần Bônsêvich bình dân. Họ, vì thế, đã làm mờ chủ nghĩa
Bônsêvich chính thống. Họ không cần phải đặc câu hỏi, phải chăng giai
đoạn trung lưu cần thiết để tiến lên xã hội chủ nghĩa? Họ thuộc thành
phần hoạt động trực tiếp, xử dụng bạo động. Họ là những người nhiệt
thành hoạt động cho chủ nghĩa Bônsêvich. Họ không cần hội thảo lý
thuyết. Họ chỉ cần phải học thuộc lòng một điều căn bản được coi như là
nhật lịnh : cướp lấy chính quyền.
Nhưng trong số những người thuộc thành phần Bônsêvich bình dân này đã
có một số đông bắt đầu lo lắng. Như các thuỷ thủ đóng ở căn cứ Hải quân
Kronstadt nằm ngoài khơi thành phố Petrograd, một vài đơn vị thuộc quân
khu thủ đô và một số Hồng vệ binh. Họ sợ nổi dậy sớm, sẽ bị thất
bại. Vì thế họ cho rằng Lenine quyết định quá nông nổi và hạn hẹp. Trái
với các tin đồn, suốt năm 1917, lực lượng Bônsêvich thật sự vô cùng
khủng hoãng và chia rẽ. Vào đầu tháng 7 năm 1917, đảng Bônsêvich
gần như tan rã. Các cuộc biểu tình vào ngày 3 và 5 ở thành phố
Petrograd bị chính phủ cấm và bị coi là bất hợp pháp. Các thành phần
đầu não của đảng bị đặt ra ngoài vòng luật pháp. Họ phải bỏ trốn ra
nước ngoài như trường hợp của Lenine.
Nhưng vì chính phủ bất lực trước các vấn đề của xã hội, uy tín chính
quyền , quyền lực truyền thống giảm sút, thêm vào đó cuộc đảo chánh
thất bại của Tướng Kornilov, đã giúp cho đảng Bônsêvich sống lại. Cuối
tháng 8 năm 1917, đảng Bônsôvich đã tập hợp lại các đảng viên, cùng với
các cảm tình viên , trở thành một khối đông và mạnh. Họ đã đủ mạnh để
chuẩn bị cướp chính quyền.
Thêm một lần nữa, Lenine giữ vai trò lý thuyết gia và chiến lược gia ,
vai trò quyết định để chiếm lấy chính quyền. Một vài tuần trước ngày
đảo chính 17 tháng 10 để thành lập nhà nước Bônsêvich, Lenine đã hoạch
ra một kế hoạch chu đáo cho cuộc bạo động. Ông ta tiên liệu ngăn ngừa
sự bộc phá của các phần tử cực đoan trong đảng và những hoạt động bất
ngờ của khối quần chúng. Ông cũng tiên liệu tránh cái '' Pháp ly cách
mạng'' cuả lãnh tụ Bônsêvich như Zinoviev hay Kamenev. Hai lãnh tụ này
đã ''bị cháy'' trong các vụ biểu tình hồi đầu tháng 7 vừa qua vì còn
tin tưởng vào sự hợp tác với các đảng xã hội dân chủ và xã hội cách
mạng.
Từ nơi trú ẩn ở Phần Lan, Lenine liên tục gởi về Ủy Ban Trung ương Đảng
Bônsêvich ở thành phố Petrograd những lời kêu gọi nổi dậy cướp lấy
chính quyền. Ông viết:
'' Nếu chúng ta tái lập nền hoà bình và phân chia ruộng đất cho nông
dân, thì chúng ta sẽ thành lập được chính quyền mà không có ai lật đổ
được. Nếu chúng ta chờ đợi cho có nhiều người ủng hộ thì sẽ không bao
giờ có. Không có cuộc cách mạng nào chờ đợi như vậy. Lịch sử sẽ không
tha thứ nếu chúng ta không nắm lấy chính quyền ngay bây giờ..''
Phần đông người Bônsêvich hoài nghi lời kêu gọi của Lenine. Họ
cho rằng cần gì phải '' đột phát''. Cứ theo tình hình này thì rõ ràng
rất thuận lợi cho họ và còn có vẻ cấp tiến nữa. Chỉ cần nắm lấy khối
đông quần chúng và khuyến khích họ bạo động ; Hoặc kết hợp với các phần
tử thuộc các phong trào xã hội cùng các lực lượng của chính phủ đang
tan rã, khuyến khích họ hành động và chờ đến kỳ Đại Hôị Liên bang các
SôViết kỳ II ngày 20 tháng 10 năm 1917. Vào kỳ Đại Hội, phe Bônsêvich
sẽ chiếm ưu thế vì có các đã có các đại diện trong các trung tâm đông
đảo thợ thuyền công nhân, cùng với các một số lớn đại diện các Ủy ban
của các quân nhân gốc nông dân. Trong khi đó đại diện của các Sô Viết ở
nông thôn có khuynh hướng xã hội cách mạng. Nhưng theo Lenine, nếu các
Sô Viết nông thôn có khuynh hướng xã hội này được đại hội chấp thuận
chó đứng ra thành lập chính phủ thì cũng sẽ là chính phủ Liên Hiệp.
Nhóm Bônsêvich sẽ chia quyền cùng với các nhóm xã hội khác. Như vậy,
theo ông, Bônsêvich chỉ có thể nắm lấy chính quyền nếu dùng vũ lực nổi
loạn trước ngày khai mạc Đại Hội. Ông ta cũng tiên đoán rằng các phe
phái khác sẽ lên án cuộc đảo chánh, tách ra trở thành phe đối lập, giao
quyền hành cho người Bônsêvich.
Ngày 10 tháng 10 năm 1917, từ biên giới Phần Lan Lenine bí mật trở về
thành phố Petrograd. Ông triệu tập ngay một phiên họp với sự hiện diện
của 12 lãnh tụ trong số 21 Uỷ Viên Trung Ương Đảng Bônsêvich. Sau
10 tiếng đồng hồ hội thảo, ông đã thuyết phục được đa số các Ủy viên để
thi thi hành một quyết định mà từ trước đến nay chưa hề xảy ra. Đó là
kế hoạch nổi dậy bằng vũ lực trong một thời gian ngắn sắp tới. 10
phiếu chấp thuận kế hoạch. Hai phiếu chống của Zinoviev và Kamenev.
Ngày 16 tháng 10, mặc dù nhóm cách mạng Xã Hội trong tổ Sô Viết thành
phố Petrograd chống đối, Trotski cũng quyết định thành lập một tổ chức
quân sự. Trên nguyên tắc, nó thuộc quyền quyết định của Ban chấp hành
SôViết Petrograd. Uỷ ban lấy tên là Ủy Ban Quân Sự Cách Mạng, viết tắc
CMRP, được uỷ nhiệm thực hiện một cuộc nổi dậy quân sự cướp lấy chính
quyền, khác hẳn các trường hợp nổi dậy của nhân dân trước đây.
Theo như kế hoạch của Lenine, con số người tham dự trực tiếp vào cuộc
cách mạng tháng 10 rất hạn chế. Vài ngàn lính của quân khu Petrograd,
một số Hải quân ở cảng Kronstadt, một số Hồng vệ binh và một số lãnh tụ
Bônsêvich thuộc các uỷ ban công xưởng. Cuộc nổi dậy chỉ chạm súng lẻ
tẻ. Con số thương vong không đáng kể. Việc chiếm lấy chính quyền không
mấy khó khăn. Ủy ban Quân Quản nắm lấy quyền hành. Như vậy quyền lãnh
đạo nhà nước hoàn toàn nằm trong tay của một tổ chức, do Ủy Ban trung
ương Bônsêvich giao phó. Không một ai có quyền tham dự cho dù có tổ
chức Đại Hội.
Chiến lược tạo một sự việc đã rồi của Lenine đã thành công. Nhóm xã hội
ôn hòa rời bỏ phòng họp Đại Hội để phản đối hành động mưu phản quân
sự do nhóm Bônsêvich chủ mưu, qua mặt các tổ chức Sô Viết. Phòng
hội giờ chỉ còn nhóm Bônsêvich và các đồng minh của họ. Những đại biểu
hiện diện trong hội trường lúc bấy giờ đã tán thành cuộc nổi dậy đồng
thời bỏ phiểu chấp thuận nghị quyết do Lenine đưa ra : '' Tất cả các
quyền lực đều về tay các SôViết''.
Nghị quyết này chỉ làm cho có hình thức để thừa nhận sự việc'' người
Bônsêvich được ủy quyền''. Đó là một sự tưởng tượng đã lừa bịp nhiều
thế hệ của những người nhẹ dạ, dễ tin. Họ nhân danh nhân dân trong các
nước SôViết đứng ra cai trị đất nước. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi
chấp thuận nghị quyết, thành lập tân chính phủ Bônsêvich, Đại Hội II bế
mạc. Tân chính quyền Bônsêvich do Lenine làm chủ tịch. Các Ủy viên đã
chấp thuận các nghị quyết cho tái lập hòa bình và tiến hành phân chia
ruộng đất. Đó là công tác đầu tiên của tân chế độ.
Không lâu sau đó, tân chính quyền phải đối đầu ngay những sự xung đột
và những sự hiểu lầm giữa chính quyền và các thành phong trào xã
hội. Các phong trào này cho rằng chính họ đã tạo nên sự tan rã mau
chóng chế độ cũ cả về phương diện xã hội cũng như về kinh tế.
Sự hiểu lầm đầu tiên là
công việc chia ruộng đất.
Nhóm Bônsêvich chủ trương quốc hữu hóa đất đai.
Nhưng vì tương quan lực
lượng bất lợi cho họ nên họ phải chấp thuận theo kế hoạch phân chia
ruộng đất của các nhóm xã hội cách mạng . Một nghị quyết về ruộng
đất đã hũy bỏ quyền tư hữu đất đai. Ruộng đất bị tịch thu không bồi
thường và đặt dưới quyền của ủy ban nông nghiệp địa phương. Ủy ban này
sẽ tái phân phối ruộng đất cho nhân dân. Trên thực tế, việc hợp
pháp hóa các việc làm của cộng đồng làng xã đã bắt đầu từ mùa hè năm
1917. Những người Bônsêvich đã tướt đoạt tàn nhẫn đất đai của điền chủ,
của những người giàu có. Nhưng vì phải dựa vào cuộc cách mạng của nông
dân, cuộc cách mạng đã giúp cho người Bônsêvich cướp lấy chính quyền,
cho nên họ phải chờ đến 10 năm sau mới thực hiện được chương trình
riêng của họ. Đó là chính sách quốc hữu hóa. Các cuộc tập thể hóa ở
nông thôn là một cuộc chạm trán gay go giữa chính quyền và nông dân. Đó
là kết quả của sự hiểu lầm về nghị quyết do cách mạng tháng Mười tạo
ra. Một sự hiểu lầm bi thảm nhất của năm 1917.
Việc hiểu lầm thứ hai là
vấn đề giao tế giữa đảng Bônsêvich và các thể
chế mới.
Các thể chế mới này là những tổ chức đã tham gia vào
các hoạt động nhầm
xóa bỏ cơ chế quyền lực cũ, và cũng đã giữ vững lập trường. Đó là các
Ủy Ban của các công xưởng, xí nghiệp, các nghiệp đoàn, các đảng xã hội,
các uỷ ban khu phố, các Hồng vệ binh, và nhất là các tổ Sô Viết. Chỉ
trong vòng vài tuần lễ, các thể chế mới này bị tước bỏ quyền lực. Họ
phải chịu sự chỉ đạo của đảng hay giải tán. Khẩu hiệu '' Tất cả quyền
lực thuộc về Sô Viết'' trở thành khẩu hiệu phổ thông trên nước Nga
trong tháng 10 năm 1917, nay bị trở cờ, quyền lực nằm trong tay đảng.
Đảng quản lý các Sô Viết.
Dưới khẩu hiệu '' Công nhân kiểm soát xí nghiệp'', các người Bônsêvich,
các người vô sản của thành phố Petrograd và các thành phố kỹ nghệ đã
hất cẵng các chủ nhân và nhân công nhà máy ra ngoài, dành quyền kiểm
soát. Họ tự nhận là công nhân. Tình trạng chống đối và lo âu xảy ra
trong giới thợ thuyền. Vật giá gia tăng, dẫn theo nạn lạm phát.
Tháng 12 năm 1917, chính quyền gặp phải sự chống đối của công nhân. Họ
đình công . Chỉ vòng trong vài tuần lễ, những người Bônsêvich gần như
mất hết niềm tin mà họ đã gây được trong lòng giới lao động trong suốt
năm 1917.
Việc hiểu lầm thứ ba là sự
đối xử với các sắc tộc, cựu thuộc địa của
Nga đưới thời Nga Hoàng.
Cuộc đảo chính của người Bônsêvich đã làm cho các
sắc dân muốn tách ra
khỏi mẫu quốc Nga. Chính quyền mới bảo đảm yêu sách này bằng cách
họ chấp thuận sự bình đẳng, chủ quyền và quyền tự quyết gia nhập hay ly
khai của các sắc dân. Chỉ trong vòng vài tháng các sắc dân Ba
Lan, Phần Lan, Baltique, Ukraine, Armenie tuyên bố độc lập. Đứng
trước tình trạng rẩm rộ ly khai chính trị , chính quyền Bônsêvich phải
đưa ra các vấn đề khác để tìm cách chận đứng sự ly khai . Họ cho rằng
vì cần phải bảo vệ vụ lúa mì ở Ukraine, vùng dầu hỏa ở Caucase, và
những quyền lợi của nhà nước khác, họ quả quyết lãnh thổ này là do nhà
nước thừa hưởng của chế độ Nga Hoàng. Họ còn đòi hỏi nhiều hơn những gì
chính phủ lâm thời đã làm.
Do nhiều hình thức khác nhau của các cuộc cách mạng xã hội và của các
sắc dân nên xảy ra cuộc va chạm mang tính đa dạng. Chính sách thực thi
đường lối chính trị độc tài, không chấp nhận phân chia quyền lực, đã
dẫn ngay đến các cuộc đối kháng , xung đột mãnh liệt từ phía quần chúng
trong xã hội, từ đó đưa đến các cuộc đàn áp đẫm máu, khủng bố dã man
của phía chính quyền .
Xin
bấm vào số chương dưới đây để xem tiếp 
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| | |
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
|
|