Nhựt báo " Sự Thật" số ra ngày 13 tháng giêng năm 1953 loan tin:
Khám phá một âm
mưu của bọn Bác Sĩ y khoa khủng bố.
Lần thứ nhất chỉ nêu lên
9 Bác sĩ nhưng sau đó con số Bác sĩ tăng lên 15 người. Họ là những
chuyên gia y tế giỏi, đa số gốc người Do Thái. Họ bị truy tố vì đã lợi
dụng chức vị cao cấp làm việc trong điện Cẩm Linh, âm mưu làm giảm tuổi
thọ của Andrei Idanov, một thành viên của Bộ Chính Trị Trung Ương, chết
ngày 8 tháng 5 năm 1948 và Alexander Chtcherbakov, chết vào năm
1950, và âm mưu ám sát các tướng lãnh cao cấp của Hồng Quân theo lịnh
của cơ quan tình báo Anh và của Ủy Ban Bảo Trợ Người Do Thái.
Người đã đùng ra tố cáo
là Bác sĩ Timachouk. Nhà nước đã tặng cho ông ta giải thưởng Lenine là
một trong những giải thưởng cao quý nhất của Xô Viết.
Trong các lần điều tra,
các Bác sĩ đã khai lời thú tội. Và cũng như thời kỳ 1936-1938, bên
ngoài nhà giam là những đám biểu tình đòi hỏi phải trừng trị các Bác sĩ
phạm tội, phải tiếp tục điều tra và phải lưu tâm đến thành phần
Bônsêvich.
Sau khi phát hiện âm mưu
của các vị lương y áo trắng, liên tục trong nhiều tuần lễ, báo chí loan
tin về những diễn biến của thời kỳ đại khủng bố. Báo chí lên tiếng phải
thanh toán dứt khoát các thành phần đầy tội ác nằm trong hàng ngũ Đảng.
Báo chí tung ra các âm mưu rộng lớn của tập hợp trí thức, của các người
Do Thái, của các quân nhân, các đảng viên cao cấp đang ở trong các
ngành kinh tế, hành chính nhà nước của các Cộng Hòa không thuộc gốc
người Nga. Và báo chí cũng báo động là các âm mưu này đang gia tăng. Nó
giống như cái thời điểm tệ hại nhất của thời Iejovschina.
Các văn khố cho tham khảo các tài liệu cho thấy đó
là thời kỳ quyết liệt nhất của chế độ Staline sau thế chiến thứ hai.
Giai đoạn này ghi lại thành quả của chiến dịch chống lại các ảnh hưởng
của ngoại lai. Có nghĩa là chiến dịch chống lại người Do Thái, phát
xuất từ năm 1946-1947 và chính thức công bố vào năm 1949. Đây chỉ là
một kế hoạch sơ khởi, mở đầu cho một chiến dịch Đại Khủng Bố mới. Nhưng
vài tuần lễ sau khi Staline qua đời, những người thừa kế đã hủy bỏ
chiến dịch khủng bố.
Vào thời điểm này cũng đã xảy ra các cuộc tranh quyền giữa cơ
quan thuộc Bộ Nội Vụ và Bộ An Ninh. Hai Bộ này tách rời ra từ năm
1946. Các cuộc tranh quyền diễn ra ác liệt để đưa người của mình vào
các chức vụ lãnh đạo đảng. Cao điểm là vụ công khai hóa về các trại
diệt chủng dân của Đức Quốc Xã. Một bên cho rằng đó là kế hoạch của Nga
Hoàng có tính bài Do Thái, trong khi đó nhóm người Bônsêvich chống lại.
Như vậy âm mưu này là trái với chủ trương của Staline ở trong giai đoạn
cuối cùng của nó.
Chúng tôi không muốn đi vào chi tiết về cái âm mưu đó, nhưng chuyện gì
đã xảy ra trong giai đoạn cuối cùng?
Vào năm 1942, chính quyền Cộng Sản muốn làm áp lực với người Mỹ gốc Do
Thái hầu mong những người này làm áp lực chính quyền Mỹ để mở mặt trận
thứ hai ở Âu Châu chống Đức Quốc Xã. Nhờ đó mà một lực lượng chống Đức
Quốc Xã ở Nga dưới quyền lãnh đạo của giám đốc nhà hát lừng danh
Yiddish là ông Salomon Mikhoels.
Hàng trăm nhà trí thức có tên tuổi gốc Do Thái tham gia vào lực lượng
chống Đức. Như văn hào Illia Ehrenbourg, thi sĩ Samuel Marchak và
Peretz Markish, nghệ sĩ dương cầm Emile Guilels, nhà văn Vassili
Grossman, nhà vật lý học Piotr Kapitza,...
Từ vai trò tuyên truyền, lực lượng này đã trở thành trung tâm sinh hoạt
của người Nga gốc Do Thái.
Tháng hai năm 1944, một số lãnh tụ như Mikhoels, Fefer và Epstein đã
gỡi cho Staline một văn thư đề nghị Staline cho thành lập một Cộng Hòa
lấy tên là Cộng Hòa Do Thái Tự Trị ở bán đảo Crimee. Mục đích là để
thay thế vụ thí nghiệm thất bại trong năm 1930 khi chính quyền Cộng Sản
đưa 40.000 dân Do Thái vào vùng hẻo lánh Birobidjan, thuộc vùng biển
đông Siberie, giáp với Trung Quốc.
Ủy Ban người Do Thái tiến hành thu thập các dữ kiện và nhân chứng về
các vụ tàn sát tập thể người Do Thái dưới thời Đức Quốc Xã. Thực ra đó
chỉ là những hình thức để ám chỉ các vụ biễu tình chống người Do Thái,
hiện vẫn còn đang diễn ra ở Ukraine và một vài vùng khác.
Ở các vùng phía Tây, nơi mà Nga Hoàng chiếm ngự, nhiều người Do Thái
cũng được sinh sống ở vùng này. Từ khi các cuộc chiến tranh mới khởi
diễn và lúc mà Hồng Quân bắt đầu thua trận, dân chúng đã nổi lên chống
sự hiện diện của người Do Thái.
Cơ quan An Ninh Nội chính đã tung ra raất nhiều tin cho rằng ở hậu
tuyến có rất nhiều phần tử nhiều tầng lớp nhân dân đã tuyên nhiễm các
lời tuyên truyền của quân Đức Quốc Xã. Theo đó, thì quân Đức chỉ tiến
đánh người Do Thái và người Cộng Sản mà thôi.
Tại các vùng bị quân Đức chiếm đóng như Ukraine dân Do Thái bị tàn sát
khủng khiếp trước mặt người dân, nhưng không tạo ra một xúc động nào
cả. Quân Đức thu nhận thêm 80.000 Ukraine vào quân đội Đức để tiêu diệt
người Do Thái. Nhà nước Cộng Sản đã mở nhiều chiến dịch kêu gọi hậu
phương chống lại cuộc xâm lăng của Đức để bảo tồn đất nước. Nhưng họ
không đề cập đến sự tàn sát độc ác của quân Đức đối với người Do Thái.
Sự êm lặng này của chính quyền Xô Viết đã tạo ra thêm ý thức câm thù
người Do Thái từ trên thượng tầng Trung Ương Đảng.
Vào tháng 8 năm 1942, Ủy
Ban người Do Thái đã gởi cho Bộ Nội Vụ trình bày vai trò nồng cốt của
người Do Thái trong các lãnh vực nghệ thuật, văn chương và truyền
thông. Chính quyền Cộng Sản tỏ ra không hài lòng về các hoạt động của
Ủy Ban người Do Thái.
Năm 1945, thi sĩ Peretz Markish bị cấm phát hành tập thơ của ông ta.
Các tài liệu do Ủy Ban Do thái sưu tầm về tội ác của Đức Quốc Xã đối
với Người Do Thái cũng bị hủy bỏ. Lý do là tài liệu chỉ lên án Đức Quốc
Xã gây chiến tranh trên đất Nga chỉ nhằm mục đích duy nhất là tiêu diệt
người Do Thái.
Theo như văn thơ đề ngày 12 tháng 10 năm 1946 do Bộ Trưởng An Ninh Nội
Chính Abakoumov gởi cho Bộ Chính trị, thì Ủy Ban Do Thái có khuynh
hướng Quốc Gia khi mở mặt trận chống Phát xít Đức.
Nhưng vì nhu cầu cần phải có một chính sách đối ngoại thuận lợi cho
việc thành lập một nước DO THAI , cho nên Staline không có phản ứng.
Chỉ sau khi Liên Hiệp Quốc và Liên Bang Xô Viết bỏ phiếu chấp thuận
chia các phần đất Palistine, diễn ra ngày 29 tháng 11 năm 1946,
Abakoumov mới được ủy quyền rộng lớn để giải tán Ủy Ban của người
Do Thái.
Ngày 14 tháng 12 năm 1947,
các thành viên của Ủy Ban Do Thái bị bắt giam. Vài tuần lễ sau,
ngày 13 tháng 01 năm 1948, Solomon Mikhoels bị giết chết trong thành
phố Minsk. Theo như lời tuyên bố chính thức của nhà nước, ông ta tử nạn
trong một tai nạn lưu thông.
Vài tháng sau, ngày 21 tháng 11 năm 19489, Ủy Ban Do Thái chính thức bị
giải tán với lý do tổ chức này là trung tâm chống Xô Viết. Cơ quan ngôn
luận của tổ chức Do Thái là tờ Einikait viết bằng tiếng Yiddish, tiếng
Do Thái cũ, bị tịch thu và cấm phát hành. Nhiều thanh niên gốc Do Thái
bị bắt giam.
Tháng 2 năm 1949, nhà nước mở chiến dịch chống tư tưởng ngoại lai của
người Nga gốc Do Thái. Báo chí lên án ngành sân khấu của các người Nga
Gốc Do Thái. Họ cho rằng kịch nghệ không phản ảnh được tinh thần người
Nga.
Trên tờ báo Sự Thật của đảng Cộng Sản, số ra ngày 2 tháng 2 năm 1949,
các ký gỉa đặt câu hỏi ông Gourvitch hay ômg Iozovski có biết gì là
tinh thần người dân Nga không?
Và từ đầu năm 1949, có hàng trăm người Do Thái sống trong các thành phố
Mạc Tư Khoa và Leningrad bị bắt giam.
Tờ Neva loan các tin về vụ kết án ở Lenigrad vào ngày 7 tháng 7 năm
1949. Các ông Archille Grigorievitch Leniton, Illia Zeilkovitch
Serman, Rulf Alexandrovna Zevina bị kết án 10 năm tù chỉ vì các ông ấy
đã nhận xét tư tưởng của Marx cùng với tư tưởng phản cách mạng, về tội
ca ngợi các tư tưởng ngoại lai và có luận điệu xuyên tạc về vấn đề quốc
tịch. Vì lý do chống án, họ bị toà án Tối Cao Sô Viết gia tăng thêm
thời gian ở tù từ 10 năm lên đến 25 năm. Tòa án Tối cao khuyến trách
tòa án Lenigrad là đã không nghiêm chỉnh kết án các bị can. Họ là các
phần tử phản cách mạng, có nhiều định kiến và cho rằng các nước khác
hay hơn tốt chính quyền Liên Bang Sô Viết.
Chính sách sa thải các cán bộ gốc Do Thái được thi hành có phương pháp,
nhất là trong các ngành thông tin, báo chí, văn hóa, trung tâm xuất
bản, trung tâm y tế. Đó là các ngành nghề then chốt mà người Do Thái
đang điều hành. Các cuộc lùng bắt diễn ra liên tục và nhắm vào mọi
giới. Nhiều chuyên viên kỹ thuật bị ghép vào tội phá hoại bị bắt ở các
khu hầm mỏ kim loại Stalino bị hành quyết vào ngày 12 tháng 8 năm 1952.
Vợ của ngoại trưởng Molotov là người Nga gốc Do Thái, tên là Paulina
Jemtchoujina, giữ vai trò chính trong ngành kỹ nghệ dệt, bị bắt giam
vào ngày 21 tháng 1 năm 1949 vì bị kết án về tội đánh mất tài liệu bí
mật của nhà nước. Bà bị kết án 5 năm tù lao động khổ sai.
Một người khác, vợ của ông Alexandre Polskrebychev, thư ký riêng của
Staline, cũng là người gốc Do Thái , bị bắt và bị xử bắn hồi tháng 7
năm 1952 vì tôi làm gián điệp. Trong khi đó Molotov và ông Alexandre
vẫn tiếp tục phục vụ cho Staline, như không có chuyện gì xảy ra.
Các cuộc thẩm tra các bị can trong tổ chức chống phát xít của người Do
Thái vẫn tiếp tục kéo dài. Các cuộc xử án kín bắt đàu từ đầu tháng 5
năm 1952, tức là gần hai năm rưỡi sau khi những người Do Thái bị
bắt. Tại sao phải cần thời gian quá lâu vậy?
Ngày nay, nhờ một số tài liệu, mặc dù chưa đầy đủ cho lắm, cũng cho
chúng ta thấy có hai lý do để giải thích cho việc kéo dài xử án người
Do Thái.
Thứ nhất là Staline vẫn chủ trương các vụ án phải được xử trong vòng bí
mật. Ông ta coi phong trào chống Phát Xít của người Do Thái có liên hệ
đến một âm mưu khác, gọi là âm mưu Leningrad, một cuộc thanh trừng vĩ
đại cuối cùng.
Song song với mục đích đó, Staline cho cải tổ sâu rộng các cơ quan an
ninh. Ông ra lịnh cho bắt ông Bộ Trưởng Nội An Abakoumov vào tháng 7
năm 1951. Ông cũng nhắm vào một nhân vật rất có quyền lực lúc bấy giờ
là ông Beria, phó chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng và cũng là Ủy viên Trung
Ương Đảng.
Vụ án Ủy ban chống Phát Xít của người Do Thái chỉ là cái cớ trong
chiến dịch thanh trừng nội bộ Đảng Cộng Sản đồng thời cũng là nguyên
nhân dẫn đến cuộc đại khủng bố lần thứ hai, nhắm vào những người mà
Staline gọi là '' Âm mưu của các vị choàng áo trắng'', các vị trong
ngày Y dược.
Trong cuộc thanh trừng về vụ '' Âm mưu Leningrad''đã có rất nhiều nhân
vật lãnh đạo cao cấp trong Đảng Cộng sản bị giết mà cho đến ngày hôm
nay vẫn còn nằm trong bí mật.
Ngày 15 tháng 2 năm 1949, văn phòng Bộ chính trị ra một nghị
quyết: Các đảng viên Kouznetsov, Rodinov và Popkov, Voznessenski và
Gosplan, chủ tịch đảng tại thành phố Leningrad, vì có hành động chống
đảng nên bị sa thải ra khỏi đảng. Staline luôn luôn nghi ngờ tổ chức
đảng của thành phố Leningrad, là thành phần chống đối ông ta. Vào tháng
8 và 12 tháng 9 năm 1949, Staline ra lịnh cho bắt giam tất cả các đảng
viên cao cấp ở thành phố Leningrad về tội có liên lạc với tình báo của
Anh nhằm chống lại đảng.
Ông Abakoumov còn phát động cuộc lùng bắt các lãnh tụ đảng cộng sản
đang giữ các chức vụ quan trọng trên khắp lãnh thổ Nga hay trên các
Cộng Hòa khác. Hàng trăm đảng viên trong thành phố Leningrad bị bắt. Có
trên 2000 đảng viên bị loại ra khỏi đảng và bị đuổi ra khỏi sở làm.
Tháng 8 năm 1949, nhà cầm quyền ra lịnh đóng cửa Viện Bảo Tàng Phòng
Thủ thành phố. Nơi đây là dấu vết của cuộc tử thủ oai hùng của quân Nga
chống lại các cuộc tấn công của quân Đức Quốc Xã. Vài tháng sau, ông
Mikhail Sonlov, Ủy Viên đặc trách Tư Tưởng của Bộ Chính Trị, được bổ
nhiệm thành lập Tiểu Ban Giải tán Viện Bảo Tàng. Tiểu Ban này làm việc
cho đến cuồi tháng 2 năm 1953 thì giải thể.
Các thủ phạm chính bị buộc tội trong vụ án '' Âm mưu Lenigrad'' gồm có:
Kouznetsov, Rodionov, Popkov, Voznessenski, Kapoustine, Lazoutine,..
đều bị xử kín vào ngày 30 tháng 9 năm 1950. Ngày hôm sau, tất cả đều bị
tử hình, một giờ sau khi đọc bản án. Sự việc xảy ra trong vòng bí mật.
Không một ai hay biết. Một bà vợ của bị can là con gái của vị chánh án,
con dâu của Bộ trưởng Anastase Mikoian và cũng là Ủy viên Trung ương
đảng cũng không hay biết gì. Qua đến tháng 10 năm 1950, các vụ án tương
tự lại diễn ra. Hàng ngàn cán bộ lãnh đạo đảng bị kết án vì có liên hệ
đến Âm mưu Lenigrad. Như ông Soloviev, đệ nhất bí thư thành phố Crimee;
ông Badaviev, đệ nhị bí thư của Ủy Ban hành chánh Leningrad; ông
Verbitski, đệ nhị bí thư vùng Mourmanski; ông Bassov, đệ nhất phó chủ
tịch Hội đồng các Bộ trưởng Nga....
Phải chăng những vụ án này là cuộc thanh trừng nội bộ của đảng cầm
quyền hay là khởi điểm của một chiến dịch đại khủng bố cuối cùng nhằm
vào giới thầy thuốc?
Có nhiều chứng cớ cho thấy lý do thứ hai là hợp lý hơn.
Bản án ''Âm mưu Leningrad'' có thể là giai đoạn cuối cùng của một dự án
chuẩn bị cho cuộc đại thanh lọc. Nhân dân Nga đã nhân ra dấu hiệu
của của đại thanh lọc vào ngày 13 tháng 1 năm 1953. Những người bị kết
án trong vụ Âm mưu Leningrad thật ra có liên hệ đến các vụ án vào những
năm 1936-1938.
Tháng 10 năm 1949, nhân kỳ
đại hội cán bộ toàn đảng vùng Lenigrad, viên đệ nhất bí thư
Andrianov đọc một bản báo cáo, trong đó ông cho biết các vị cựu lãnh tụ
đảng đã cho phát hành các tài liệu do Trostki và Zinoviev viết. Mục
đích của ông ta là cố tình cho thấy các cựu lãnh tụ đã có liên hệ đến
các phần tử phản đảng, có tội với nhân dân như các ông Trostki,
Zinovie, Kamenev,..Ông ta muốn nói rằng những vị cựu lãnh tụ này đang
âm mưu khơi dậy thời kỳ 1936-1938.
Tháng 10 năm 1950, sau khi
hành quyết các thủ phạm trong vụ Leningrad, các vụ chống đối và
dàn cảnh chống đối diễn ra liên tục trong hai bộ Nội vụ và Công an.
Nạn nhân đầu tiên là ông
Beria. Staline bày ra một âm mưu thâm độc. Ông cho sát nhập vùng
Mingrelic, một vùng thuộc Cộng Hòa Georgie. Đó là quê hương của Baria.
Trước kia vùng này thuộc về Thổ Nhĩ Kỳ. Với vụ sát nhập này, Staline hy
vọng ông Baria sẽ ra tay tàn sát các đảng viên cộng sản đồng hương của
ông và thành trừng luôn đảng cộng sản Georgie.
Vào tháng 10 năm 1951,
Staline lại tìm cách gài bẫy Beria lần nữa. Staline ra lịnh cho
bắt các cán bộ lão thành trong bộ Công an. Trong số này có cả Trung Tá
Eitingon, một cận vệ của Beria trong chiến dịch ám sát Trostski vào năm
1940; Tướng Leonid Raikhman, người đã tham dự vào vụ án Mạc Tư Khoa vào
năm 1938; Đại tá Lev Schwarzmann, người đã từng tra tấn các lãnh
tụ cộng sản Babel và Meyrhold; Viên thẩm phán Lev Cheinine, cánh tay
mặt của Vychinski, biện lý viên của các vụ án 1936-1938. Tất cả đều bị
lên án là đã nhúng tay vào âm mưu lớn của người Do Thái mà người cầm
đàu là Abakoumov, bộ trưởng đặc trách nội an, một nhân vật thân cận của
Beria.
Trước đó vài tháng, vào ngày 12 tháng 7 năm 1951, Abakoumov bị bắt và
giam bí mật. Ông ta bị kết án vì đã thủ tiêu ông Jacob Etinguer, một
bác sĩ nổi danh, gốc người Do Thái. Ông bác sĩ này bị bắt vào tháng 11
năm 1950 và bị chết trong tù. Bác sĩ Etinguer đã từng trị bịnh cho
nhiều các bộ cộng sản cao cấp như các ông Serge Kirov, Sergo
Ordjonikidze, thống chế Toukhatchevski, lãnh tụ đảng cộng sản Ý
Palmiro, TiTo và Georges Dimitrov.
Lý do mà ông Abakoumov thủ tiêu bác sĩ Eitinguer là để ngăn cản việc
lột mật nạ một số người Do Thái phạm tội ác, đã xâm nhập vào các chức
vụ cao cấp trong guồng máy Công an.
Vài tháng sau, Abakoumov bị kết án là đầu não của cuộc âm mưu của nhóm
người gốc Do Thái.
Vụ bắt giam Abakoumov là khởi điểm của một chính sách nhằm thủ tiêu và
giải thể các tổ chức của người Do Thái và tổ chức của nhóm y giới, mở
đầu cho cuộc đại thanh lọc.
Như vậy vào mùa hè 1951,
chớ không phải là vào năm 1952, chiến dịch đại thanh trừng đã bắt đầu.
Từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 7 năm 1951 đã diễn ra các vụ án bí mật xét
xử những thành viên của Ủy ban chống phát xít của người Do Thái. Có 13
ủy viên nồng cốt của ủy ban bị kết án tử hình và bị hành quyết ngay.
Ngày 12 tháng 8 năm 1952, 10 kỹ sư gốc Do Thái đang làm việc trong
xưởng sản xuất xe hơi Staline, cũng bị kết án tội phá hoại và bị hành
quyết.
Tính chung, có tất cả 125
vụ án, trong số đó có 25 bản án tử hình và số còn lại bị kết án từ 10
đến 25 năm tù và bị đưa đi lao động cưỡng bách.
Tháng 9 năm 1952, nhà nước cộng sản hoàn tất bản cáo trạng nhóm người
Do Thái. Việc thi hành bản án được dời lại vài tuần vì lúc đó là thời
gian đảng cộng sản tổ chức đại hội đảng cộng sản thống nhất lần thứ
19, vào tháng 10 năm 1952.
Khi đại hội kết thúc, tất cả cá bác sĩ người gốc Do Thái đều bị bắt
giam bí mật.
Đến ngày 22 tháng 11 năm
1952, một vụ án xét xử cựu tổng bí thư đảng cộng sản Tiệp Khắc là ông
Rudolf cùng với 13 lãnh tụ khác. 11 người trong số này bị kết án
tử hình và bị treo cổ. Nó diễn ra giống như vụ án đã xảy ra ở Mạc Tư
Khoa. Các đạo diễn của vụ án cũng chính là do cố vấn Nga., với mục đích
là thanh toán các lãnh tụ cộng sản Tiệp gốc Do Thái. 11 trong số 14 bị
can là người gốc Do Thái. Họ bị buộc tội nhúng tay trong tổ chức ''
nhóm khủng bố Trotski-Tito và Do Thái''. Đó là vụ án mở đàu cho cuộc
thanh trừng người Do Thái ở các nước Đông Âu.
Ngay sau khi hành quyết 11
người, ngày 4 tháng 12 năm 1952, Staline đề nghị Hội Đồng Trung Ương ra
lịnh cho Bộ Công an phải thông báo đến các đảng viên cộng sản hãy chấp
dứt các việc làm không thể kiểm soát được. Như vậy là Bộ Công an
bị khiển trách và bị loại bỏ ra ngoài vì đã không kiểm soát được việc
xâm nhập của những bác sĩ người Do thái vào trong các tổ chức quan
trọng của chính quyền. Như vậy là Staline đã thắng thêm một bước nữa
khi ông ta dùng '' những vị choàng áo trắng'' để chống lại các lãnh tụ
của ngành công an, tức là chống lại lãnh tụ Beria. Bởi vì ông Beria
trong tư thế của người đứng đầu bộ an ninh, không thể bào chửa là ông
không biết gì về chuyện xâm nhập phá hoại này.
Cho đến bây giờ chưa ai biết chuyện gì đã xảy ra trong khoảng thời gian
vài tuần lễ trước khi Staline chết. Người ta chỉ được biết là phải thận
trọng , người bênsơvich phải đãu tranh chống lại các hình thức thụ
động.Trong các cuộc họp quần chúng đều nêu ra các khẩu hiệu trừng phạt,
và các vụ bắt giam và tra khảo các bác sĩ người Do Thái vẫn tiếp tục
diễn ra.
Ngày 19 tháng 2 năm 1953, Phó bộ trưởng ngoại giao Ivan Maiski, cánh
tay mặt của Bộ trưởng ngoại giao Molotov, là cựu đại sứ tại Luân Đôn bị
bắt giam. Ông này thú nhận là đã được thủ tướng Anh Winston Churchil
dùng làm gián điệp cùng một lúc với ông Alexandre Kollontai. Ông này là
một trong những lãnh tụ cao cấp Bônsơvich đã cầm đầu phong trào thợ
thuyền vào năm 1921.
Bà Kollontaii cũng đã từng là đại sứ của Liên Sô tại Thụy sĩ cho đến
khi Thế chiến thứ hai kết thúc.
Mặc dù đã diễn ra rất tốt đẹp trong việc thụ lý hồ sơ '' Âm mưu'',
người ta không thể không nhận thấy có một cái gì đó khác hẳn với các vụ
án đã xảy ra trong những năm 1936-1938.
Không có một viên chức cao cấp nào của chế độ tham dự công khai vào các
diễn tiến đã xảy ra trong suốt thời gian từ ngày 13 tháng 1 năm 1953
cho đến khi Staline chết.
Theo lời tiết lộ của Thống
chế Boulganine vào năm 1970, chỉ có 4 lãnh tụ cao cấp đã tham gia vào
'' Âm mưu này''. Đó là các ông: Malenkov, Soulov, Rioumine và Ignatiev.
Những lãnh tụ khác đều thấy rằng mình bị đe dọa.
Theo lời của Boulganine,
vụ án của những người bác sĩ gốc Do Thái sẽ được khởi xử vào ngày 15
tháng 3 và sẽ tiếp diễn và sẽ đưa đi lưu đày một số lớn người gốc Do
Thái ra vùng Birobidjan.
Ngày nay, người ta chỉ có thể tham khảo một phần các văn kiện của Phủ
Chủ Tịch. Nơi này còn lưu trữ một số hồ sơ tối mật và rất là nhạy cảm.
Người ta chưa biết sự thật về kế hoạch đưa một số lớn người Nga gốc Do
Thái; Nhưng có một điều chắc chắn : Cái chết của Staline đã xảy ra đúng
lúc để ngăn chận một sự kiện là sẽ phải có thêm một danh sách của hằng
triệu nạn nhận của chế độ độc tài Staline.
Xin
bấm vào số chương dưới đây để xem tiếp 
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| | |
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
|
|