Sau khi đã nắm được chính-quyền, Lénine mơ mộng sẽ mang '' ngọn lửa ''
cách mạng lan rộng khắp Âu-Châu, rồi luôn cả thế-giới. Giấc mộng này
đáp ứng với biểu ngữ ( slogan ) của Karl Marx trong bản tuyên ngôn của
cộng-sản đưa ra vào năm 1848 : '' Hởi tất cả các người vô-sản của tất
cả mọi nước, hảy cùng nhau họp lại ''. Về tổng-quát, đó là một
điều tối cần : cuộc cách mạng Bôn-sê-vít chỉ có thể đứng vững nắm
chính-quyền và có thể phát-triễn được với điều kiện là sẽ được che đở,
ủng hộ, giử vững vị-trí nắm chính-quyền và được nâng đở cùng tiếp liên
( relayée ) bằng các cuộc cách mạng khác ở các nước mở mang hơn. Trước
tiên Lénine nghỉ rằng, nước Đức với giai cấp vô-sản được tổ chức cùng
với khả năng kỹ-thuật phong phú . Các nhu cầu phối hợp của hoàn cảnh
không bao lâu nửa sẽ biến thành một kế-hoạch chính-trị thực thụ : Cuộc
cách-mạng thế-giới. Trong hoàn cảnh của thời điễm này, các việc đả xãy
ra hình như chứng minh cho các suy tư của nhà lãnh đạo Bôn-sê-vít là
đúng. Với việc tan rả của hai đế-quốc Đức và Áo-Hung, gây ra do cuộc
bại trận vào năm 1918 đả gây ra một cơn chấn động ghê-gớm, gần như một
cơn động đất lớn về chính trị, và được tiếp nối bởi cơn lốc lớn (
tourbillon ) về cách mạng. Trước khi các người Bôn-sê-vít có được một
sáng kiến nào khác ngoài ra các khẩu ngữ tuyên-truyền, cuộc cách mạng
hình như bất giác xảy ra trong cơn lốc do cuộc bại trận của Đức và
Áo-Hung.
Cuộc cách mạng ở Âu-Châu
Nước Đức là nước đầu tiên bị cơn chấn động gây ra, trước khi xảy ra
cuộc đầu hàng , đả có xảy ra cuộc nổi loạn ( multinerie ) của toàn thể
lực-lượng Hải-quân. Cuộc bại trận của nước Đức được tiếp nối với việc
thiết-lập một nền cộng-hòa do các người thuộc đảng xã-hội-dân-chủ lãnh
đạo. Các vị lãnh đạo này không thể ngăn cản được sức phản kháng dử dội
từ mọi phía ; khi thì phát suất từ phía quân đội, khi thì do các
cơ-quan công-an, khi thì do các nhóm nghỉa dũng binh ( France-tireur )
thuộc các phái siêu quốc-gia, cùng với các người thán phục chế độ độc
tài Bôn-sê-vít.
Tháng 12 năm 1918, tại
Berlin, hai vị Rosa Luxemburg et Karl Liebknecht đả cho phát hành
chương-trình của nhóm Spartakus và vài ngày sau đó hai vị này đả rời
hàng ngũ Đảng Xã-hội Dân-chủ để thành lập Đảng Cộng-sản Đức. KDP
cùng với sự liên hợp với các tổ chức khác. Hai khuynh hướng khác nhau
đả xảy ra trong hàng ngủ của KDP, ngay từ đầu tháng Giêng năm 1919,
khuynh hướng cực đoan do Karl Liebknecht cầm đầu và khuynh hướng ôn hòa
do của Rosa Luxemburg . Huynh hướng cực đoan muốn theo gương Lénine, từ
chối việc thành lập một Quốc-hội Lập-hiến, cả hai điều toan tính tạo
một cuộc dấy loạn ở Berlin nhưng theo lịnh của các nhà lãnh đạo Xã-hội
Dân-chủ, quân đội đả dẹp tan cuộc dấy loạn này. Hai vị lãnh đạo này
liền bị bắt và đến ngày 15 tháng Giêng năm 1919 thì bị giết chết. Và
ngày 13 tháng 4 năm 1919, vị lãnh đạo KDP ở vùng Bavière, đó là ông
Eugen Leviné đả cầm đầu một cộng hòa của các ũy-viên vì ông này đả ra
lịnh quốc hữu-hóa các ngân hàng, và bắt đầu thành lập một đạo
Hồng-quân. Công-xã Munich ( commune de Munich ) đả bị quân đội đánh tan
vào ngày 30 tháng 4 năm 1919, ông Leviné bị bắt ngày 13 tháng 5, đả bị
đưa ra xử trước tòa án quân-đội, bị kết án tử hình và bị xử bắn vào
ngày 5 tháng 6 năm 1919.
Cơn thức đẩy cách mạng ( poussée révolutionnaire ) lừng danh hơn hết và
là một gương mẫu chính là cuộc cách mạng đả diễn ra ở Hung-Gia-Lợi.
Nước này là thành phần của đế-quốc Áo-Hung Gia Lợi ( Austro-Hongroise )
sau cuộc bại trận và bị tan rả vào tháng 11 năm 1918 đả không chấp nhận
việc chia cắt phần đất của mình do các nước đồng minh quyết định, đó là
việc cắt phần đất vùng Transylvanie, đả thành lập và đó là nước duy
nhất mà các nhà lãnh tụ Bôn-sê-vít đả xuất cảng được đường lối của họ.
Khởi đàu từ năm 1918, đảng Bôn-sê-vít đả quy tụ được tất cả các tổ chức
có cảm tình với họ, các người này không phải là người Nga, họ được tổ
chức thành một Liên Đoàn các người cộng-sản người ngoại-quốc. Ở Moscou
có một nhóm người Hung-Gia-Lợi, nhóm này gồm các cựu tù binh
chiến-tranh và đến tháng 10 năm 1918, nhóm người này gồm có 20 người
được gởi trở về Budapest. Ngày 4 tháng 11 năm 1918, đảng Cộng-sản
Hung-Gia-Lợi ( PCH ) được thành lập dưới sự lãnh đạo của Béla Kun. Là
một tù binh chiến tranh, Béla Kun đả nhiệt thành tán thành và gia nhập
cuộc cách mạng bôn-sê-vít và đả trở thành vị chủ-tịch liên đoàn các
người cộng-sản ngoại quốc vào tháng 4 năm 1918. Ông trở về đất Hung vào
tháng 11 năm 1918 cùng với 80 vị lãnh tụ khác và được bầu lên làm chủ
tịch đảng. Cuối năm 1918 và đầu năm 1919, người ta ước lượng được một
số khoảng từ 250 đến 300 người '' quấy rối '' và '' đặc phái '' đả được
đưa vào đất Hung. Nhờ sự viện trợ tài chánh của các người Sô-viết, các
người cộng-sản Hung đả có thể phát-triễn được các việc tuyên truyền và
tăng cường ảnh hưởng của họ.
Tờ công báo của đảng xã-hội dân-chủ : Tiếng nói của nhơn dân /
NEPSZAVA, đả kịch liệt chống lại các người bôn-sê-vít, đả bị tấn công
vào ngày 18 tháng 2 năm 1919, do một số đông các người thất nghiệp và
các quân nhơn do các người cộng-sản động viên với mưu đồ hoặc là chiếm
lấy nhà in hoặc là phá bỏ nhà in này. Cơ quan công an phải can thiệp và
đả có 8 người chết cùng lối 100 người bị thương tích. Cùng vào đêm đó
Béla Kun và bộ tham mưu của ông đều bị bắt. Ở tại khám đường trung
ương, các nhơn viên công an đả đánh đập các người bị bắt để trả thù cho
bạn đồng sự của họ đả bị giết chết trong lúc tấn công vào nhà in báo
Nepszava. Chủ tịch nước Hung, Michel Karolyi đả gởi vị bí thư của ông
đến vấn an tình trạng sứ khỏe của vị lãnh đạo cộng-sản và nhờ vậy vị
này được hưởng một chế độ gần như tự do, nhân dịp này vị lãnh đạo này
mới có dịp tiếp tục các hành động của mình và chẳng bao lâu, lật ngược
lại được tình thế. Trong lúc còn đang ở khám đường, vị lãnh tụ này đả
đạt được một sự thành công đáng kể : đó là việc sát nhập đảng PCH vào
đảng Xã-hội Dân-chủ. Được tiếp diển theo đó là sự từ chức của vị
chủ-tịch Karolyi mở đường cho việc tuyên cáo thành lập cộng hòa các vị
cố vấn, trả lại tự do cho các người cộng-sản bị bắt và chấp nhận tổ
chức theo khuôn mẫu các người bôn-sê-vít, thành lập một hội đồng nhà
nước cách mạng quy tụ các vị uỷ-viên nhơn dân. Cộng hòa này tồn tại
được 133 ngày, từ ngày 21 tháng 3 đến 1 tháng 8 năm 1919.
Vừa vào cuộc họp đầu tiên, các ủy viên nhơn dân quyết định ngay việc
thành lập các tòa án nhơn dân với các vị thẩm phán do nhơn dân lựa
chọn. Được liên lạc thường xuyên bằng điện tín với Budapest và khởi đàu
vào ngày 22 tháng 3, Lénine đả có 218 bức điện văn được trao đổi, Béla
Kun đả chấp nhận và coi Lénine là vị lãnh tụ của vô-sản thế-giới.
Lénine đả khuyên Béla Kun hảy xữ bắn các người xã-hội dân-chủ và các
người tiểu tư-sản. Trong lời kêu gọi của ông vào ngày 27 tháng 5 năm
1919 : '' Hởi các công nhân người Hung, ông đả chứng minh việc dùng
sách lược khủng bố, cuộc chuyên chế này phải cần đến sự bạo động không
nguôi, phải được quyết đînh ngay để đập tan các sự đối kháng của các
người trục lợi, các người tư bản, các đại điền chủ và các tên tai sai
của họ. Kẻ nào không hiểu các việc này không phải là người cách mạng.
Chẳng bao lâu, Mathias Rakosi ủy viên phụ-trách thương mãi và Eugen
Varga ủy-viên phụ trách các vấn đề kinh tế, cùng các người có
trách-nhiệm ở các tòa án nhân dân đả '' bán đứng '' các người buôn bán,
các người làm công và các vị luật sư. Một tờ tuyên cáo, dán trên các
vách tường đả tóm tắc tinh thần vào thời đó : '' Trong một nhà nước của
các người vô-sản chỉ có các người nào có lao động mới có quyền sống còn
''. Việc lao động trở nên bắt buộc, các xí nghiệp trên 20 công nhân,
rồi đến lượt các xí nghiệp có trên 10 công nhân, rồi đến các xí nghiệp
có 10 công nhân đều lần lượt bị quốc hữu hóa và truất quyền sở-hữu.
Lực lượng quân đội và công an đều bị giải tán và được thay thế bởi một
lự lượng quân đội mới gồm các người cách mạng tình nguyện là thành phần
nồng cốt và tin cẩn. Chẳng bao lâu một đội '' khủng bố '' của Hội đòng
Cách mạng của chính phủ được tổ chức dưới tên : '' các người của Lénine
''. Họ đả ám sát lối một chục người, trong số này có một vị thiếu úy
hải quân trẻ tuổi Ladisla Dobsa, một vị phó đệ nhất Quốc-vụ-khanh, và
người con của vị này là giám đốc cục hỏa xa, ba vị sĩ-quan hiến binh.
Các người của Lénine vâng lịnh của một cựu thủy thủ József Czerny,
người này đả động viên các người cộng-sản tiến bộ nhứt, nhứt là các cựu
tù nhơn chiến tranh đả tham gia vào cuộc cách mạng bôn-sê-vít. Czerny
đả liên minh với Szamuely, một vị lãnh tụ cộng-sản cấp tiến và là đối
lập với Béla Kun vì ông này đả đòi giải tán các '' toán người của
Lénine ''. Để phản ứng lại, Czerny đả quy tụ các tay chân của y và bắt
đầu tấn công vào tòa nhà của các sô-viết vì Béla Kun đang làm việc tại
đây với sự hổ trợ của József Haubrich, một đảng viên xã-hội Dân-chủ
đang kiêm nhiệm ủy viên phó nhơn dân phụ-trách quốc-phòng. Sau hết là
một cuộc thương lượng và các người của Czerny chấp nhận hội nhập vào
cơ-quan Ủy viên nhơn dân phụ trách bộ nội vụ hay là gia nhập vào quân
đội, đó là trường hợp của đa số.
Tybor Szamuely cầm đàu một
toán '' những người của Lénine '' gồm có 20 người đả đi đến Szolnok,
thành phố đàu tiên do Hồng-quân Hung-gia-lợi chiếm đóng và đả ra tay
hành quyết nhiều người thân hào bị buộc tội đả hợp tác với các người
Lỗ-ma-ni ( Roumains ) và đả coi các người này là kẽ thù của nước Hung
vì vấn đề các lãnh thổ thuộc vùng Transylvanie và về chính trị vì chế
độ ở Roumanie đả chống lại chế độ Bôn-sê-vít đang được thiết lập tại
Hung. Một học sinh trung học gốc người Do-Thái đả đến xin ân xá
cho cha mình, đả bị giết chết vì cậu học sinh này đả dại dột gọi
Szamuely là con '' dã thú ''. Vị chỉ huy Hồng-quân Hung đả cố gắng chận
lại sự hăng xay cách mạng của Szamuely vì người này đi trên đoàn xe hỏa
xa mà y đả trưng dụng ( réquisitionné ) để đi qua một vùng đất của nước
Hung và ra lịnh '' treo cổ các người nông dân nào đả chống lại việc ''
tập thể hóa '' ( collectivisation des terres ) các đất đai. Người phụ
tá của Szamuely là Jósef Kerekes đả bị cáo là đả tàn sát một trăm năm
chục người, y thị đả thú tội là đả xử bắn năm người và chính tay y thị
đả treo cổ 13 người khác. Con số chính xác các người bị tàn sát không
bao giờ được biết rỏ. Arthur Koestler nhà văn nổi danh với tác phẫm nổi
danh giờ thứ 25 đả nhất định cho biết là có lối 500 người đả bị giết.
Tuy vậy ông đả ghi : '' Tôi không thể nghi ngờ là chủ-nghĩa cộng-sản ở
Hung-Gia-Lợi , với thời gian sẽ biến thành một nhà nước công-an và
chuyên chế và sẽ bắt buộc đi theo khuôn mẫu của nước Nga. Nhưng sự nhận
định này, với các điều hiểu biết vừa được trưng ra, đả không làm giãm
sự hăng xay chứa nhiều nguồn hy vọng nơi những ngày đàu của cuộc cách
mạng. Các vị sử gia đả xác nhận là các toán người của Lénine đả là thủ
phạm của việc giết 80 người trong số 129 người đả bị hành quyết, con số
này đả được chính thức kiễm kê, nhưng nếu đúng ra thì phải có xảy ra
lối vài trăm người nạn nhơn đả được biết đến.
Với cao trào chống đối gia tăng và việc suy sụp của tình hình quân sự
trước quân lực Roumanie, chính phủ cách mạng phải dùng đến chính sách
'' bài Do-thái ''. Một bản yết thị đả tuyên cáo : '' Các người gốc
Do-thái đả từ chối đi ra tiền tuyến, hảy tiêu diệt các người này vì họ
đả từ chối hiến thân cho chính sách thiêng liêng của chuyên chế vô-sản
''. Béla Kun ra lịnh bố ráp năm ngàn người dân Balan gốc Do-thái khi
các người này đến Hung để tìm lương thực và các tiếp tế khác. Các tiền
bạc của họ đều bị tịch thu và họ bị trục xuất ra khỏi đất Hung. Các
người cấp tiến của đảng cộng-sản Hung PCH đả đòi đưa Szamuely lên lãnh
đạo các thường vụ và đòi phải có một cuộc tàn sát đỏ như kiểu
Saint-Barthélemy của cuộc cách mạng 1789 của Pháp, coi là như cách duy
nhất để làm ngưng lại việc tình hình suy sụp nền Cộng-hòa của các
Ủy-ban. Czerny cố gắng tái tổ chức lại các toán người của Lénine. Vào
trung tuần tháng 7, một lời kêu gọi được đăng trên báo Nepszava :''
Chúng tôi kêu gọi các thành viên, của toán khủng bố này, đả giải ngũ,
hãy đến trình diện để được tái tuyển mộ lại tại chổ làm việc của József
Czerny ''. Ngày hôm sau, một bản đính chính đả được đăng : '' Chúng tôi
sẽ thông báo riêng cho mỗi cá nhân, việc tái hoạt động của các người
Lénine củ ''. Việc này không thể dự trù được : các người này đả
vi phạm và làm các việc xấu xa quá nặng và đả làm thương tổn đến danh
dự của các người vô-sản và việc tái tuyển dụng họ để phục vụ cho nền
cộng-hòa của Ủy ban, đả bị hũy bỏ ''.
Những tuần lể cuối cùng của Công-xã Budapest rất là hổn độn, Béla Kun
phải lo đương đầu chống lại một cuộc '' putsch '' để loại ông và hình
như âm mưu này do Szamuely cầm đầu. Ngày 1 tháng 8 năm 1919, Béla Kun
rời Budapest dưới sự che chở của phái đoàn quân sự của Italie ; vào mùa
hè năm 1920 ông tị nạn ở Liên Bang Sô-viết ; vừa đến nơi ông đả được
tuyển là ủy-viện chính trị của Hồng-quân Sô-viết và trên mặt trận ở về
phía Nam, ông đả nổi danh vì đả ra lịnh hành quyết các người sĩ-quan
Bạch-quân thuộc quân đoàn Wrangel, đả được kêu gọi là nếu họ đầu hàng
và mạng sống của họ sẽ được bảo đảm. Ngày 2 tháng 8 năm 1919, Szamuely
toan vượt biên để trốn qua nước Áo, y bị bắt và đả tự tử sau đó.
Komintern và trận nội chiến
Trong lúc Béla Kun và các đồng chí của ông toan tính việc thành lập một
đệ nhị cộng hòa của các sô-viết thì Lénine đả có sáng kiến để thành lập
một tổ chức quốc-tế để đưa cuộc cách mạng ra toàn thế giới. Đó là tổ
chức được mang danh là Quốc-tế Cộng-sản và với tên viết tắt là
Komintern hay là Đệ Tam Quốc Tế đả được thành lập vào tháng 3 năm 1919
và trên mọi bình diện đả trở thành đîch thủ của Quốc-tế Thợ-thuyền đả
được coi là Đệ-nhị Quốc-tế được thành lập vào năm 1889. Tuy vậy, đại
hội thành lập tổ chức Komintern đả giải đáp các nhu cầu về tuyên truyền
khẩn cấp và toan tính để '' dụ được các phong trào đột khởi đang làm
rung chuyển Âu-châu, hơn là một khả năng thực tế về tổ chức. Sự thật về
sự thành lập tổ chức Komintern bắt nguồn từ đại hội 2, được tổ chức vào
mùa hè năm 1920 với việc chấp thuận 21 điều kiện gia nhập mà các người
xã-hội phải chấp nhận phục tùng nếu họ mong ước được thu phục và được
hội nhập vào một tổ chức '' siêu trung-ương tập trung '' đó sẽ là '' bộ
tham mưu của cuộc cách mạng thế giới và đảng Bôn-sê-vít, với các uy
tín, các kinh nghiệm và nắm quyền nhà nước ( riêng về tài chính, quân
sự và ngoại giao ) đả là thành phần '' nặng ký ''.
Tổ chức Komintern, liền
khi đó đả được Lénine nghỉ ra và cơ quan niệm là một công cụ khuynh tả
( subversion ) quốc tế giống như các ngành khác : Hồng-quân, Ngành
Ngoại-giao, các cơ-quan Gián-điệp v.v.. và học thuyết chính trị của tổ
chức Komintern được bắt chước y nguyên theo các tổ chức Bôn-sê-vít :
Đây củng là thời điễm để thay thế các vũ khí bị chỉ trích bằng
các cuộc chỉ trích về vũ khí. Bản tuyên ngôn của đại hội 2 đả
được chấp nhận, hiên ngang thông báo : '' Quốc-tế Cộng-sản đó là đảng
Quốc-tế để dấy loạn và của chuyên chính vô-sản ''. Để kết thúc, điều
kiện thứ 3 ở trong 21 điều kiện đả quyết định :'' Gàn như toàn các nước
ở Âu-châu và ở Mỹ-châu, việc đãu tranh giai cấp đả bước vào giai đoạn
nội chiến. Các người cộng-sản không thể tin cậy vào sự hợp pháp của bọn
trung lưu trưởng giả. Bổn phận của họ là phải tổ chức ở khắp mọi nơi,
song song với các cơ quan hợp pháp, một cơ quan bí mật có thể, và quyết
đînh khi thời gian thuận tiện sẽ thi hành và làm đủ bổn phận đối với
cuộc cách mạng thế giới. ( Cộng-sản Việt-Nam đả thực hành điều này ).
Định thức uyển khúc ( formules euphémisées ) : Giai đoạn quyết định là
cuộc dấy loạn cách mạng, và bổn phận đối với cuộc cách mạng đó là bắt
buộc lao mình vào một cuộc nội chiến hay là bắt buộc tạo ra một cuộc
nội chiến. Một chính sách không dành riêng cho các nước sống dưới chế
độ độc tài mà chỉ áp dụng cho các nước dân chủ, các nước cộng hòa hay
vương quốc lập hiến.
Điều kiện thứ 12 ghi rỏ ràng là nhiều sự cần thiết về các tổ chức dính
liền với nhau để chuẩn bị cho một cuộc nội chiến : Về thời điểm hiện
nay của cuộc nội chiến ác liệt đang xảy ra, đảng cộng-sản chỉ có thể
hoàn thành nhiệm vụ , nếu được tổ chức tập trung về trung ương,với một
'' kỷ luật thép '' tiếp cận với kỹ luật quân đội được chấp thuận, và cơ
quan trung ương được tập trung nhiều quyền lực rộng rải và thi hành một
quyền uy không tranh luận và được hưởng một sự tín nhiệm nhất trí
của toàn thể các lãnh tụ. Điều kiện thứ mười ba củng đả dự định về các
vị lãnh đạo không nhất trí : Các đảng cộng-sản phải thi hành các cuộc
khai trừ định kỳ ở trong các tổ chức của họ để loại bỏ các phần tử bị
dính líu và các '' tiểu-tư-sản ''.
Tháng 6 năm 1921, lúc đại
hội 3 họp tại Moscou, với việc tham dự của nhiều đảng cộng-sản của các
nước, đả được thành lập, các khuynh hướng đả trở nên rỏ rệt : Luận đề
về các chiến thuật đả chỉ rỏ : Đảng cộng-sản có bổn phận giáo dục cho
nhiều từng lớp của quảng đại quần chúng, bằng lời nói và các việc làm,
quan niệm là các cuộc xung đột hay tranh chấp về kinh tế hay về chính
trị, được sự trợ lực của nhiều trường hợp thuận tiện, có thể trở thành
một cuộc nội chiến và khi ấy bổn phận của giai cấp vô-sản là nắm lấy
quyền chính trị. Các luận đề về các cách cấu tạo, các đường lối
cùng các hành động của các đảng cộng-sản phải được tổ chức bí mật, dù
là ở trong lòng của đảng, các luận đề này đả nhấn mạnh về các việc
chuẩn bị rất cần thiết và các biện pháp rất cần là : '' không phải bất
cứ lúc nào vấn đề tổ chức một đạo Hồng quân củng có thể thực hiện được
''.
Từ lý thuyết đến thực hành, chỉ có một bước đả đạt được ở nước Đức vào
tháng 3 năm 1921, cơ quan Komintern dự định thực hành một hành động
cách mạng rộng rải, dưới sự lãnh đạo của Béla Kun, trong thời gian này
đả được bầu vào chức Chủ-tịch đoàn của tổ chức Komintern. Được phát
động vào thời điễm các người Bôn-sê-vít đang đàn áp công sã Kronstadt,
cuộc '' khởi động tháng 3 '' một mưu toan nổi loạn thiệt thọ được diển
ra ở vùng Xaxe, đả thất bại dù nhiều phương tiện đả được cung cấp và
các cuộc bạo động dử dội như việc đặt '' cốt mìn '' phá hoại đoàn xe
hỏa tốc hành đi từ Halle đến Leipzig. Cuộc thất bại này đả đưa đến việc
diển ra cuộc thanh trừng đầu tiên ở trong hàng ngũ của tổ chức
Komintern. Paul Levi, chủ-tịch đảng cộng-sản Đức ( KPD ) và là một
trong những người thành lập tổ chức Komintern đả bị loại ra khỏi hàng
ngũ vì các lời chỉ trích của ông đả nói về cuộc '' phiêu lưu này ''. Dù
đả nằm dưới ảnh hưởng nặng nề của khuôn mẫu sô-viết, các đảng cộng-sản
trên nhản quan của '' định chế '' chỉ là các phân chi quốc gia của
Quốc-tế Cộng-sản, các phân chi này đả dần dần đi đến việc không lệ
thuộc ; việc này đả diển ra trước việc không phục tòng và được quyết
đînhvào tời điểm thẫm cấp sau cùng ( dernière instance ) cho đường lối
chính trị và tổ chức của Komintern. Khuynh hướng '' nổi loạn '' ở các
nơi của Grigori Zinoniev đả bị chính Lénine chỉ trích. Nhưng
Zinoniev, trên căn bản đả cho Paul Lévi đả có lý khi trao quyền lãnh
đạo KPD lại cho các người đối nghịch của Lévi. Sức mạnh của tổ chức
Komintern đả được củng cố dịa vị của nó.
Quân đội Pháp và Bỉ vào chiếm đóng vùng kỹ-nghệ nặng Ruhr vào tháng
Giêng năm 1923, để bắt buộc nước Đức phải trả tiền bồi thường thiệt hại
do chiến tranh gây ra ; theo với tinh thần hòa-ước Versailles ngày 23
tháng 6 năm 1919. Một kết quả cụ thể do việc chiếm đóng của quân đội
hai nước, đưa đến việc thỏa hiệp của các người quốc gia và người
cộng-sản Đức để chống lại '' chủ nghĩa đế quốc của Pháp '', cùng đüa
đến việc đối kháng thụ động của dân Đức ở vùng bị chiếm đóng, việc đối
kháng thụ động này được chính phủ Đức ũng hộ. Tình hình kinh tế đang
bất ổn, bổng mỗi ngày mỗi suy sụp thêm. Đồng tiền của nước Đức đả trở
nên vô dụng, một đồng Mỹ kim đổi được 13 triệu đồng tiền Mark của Đức.
Các cuộc đình công, biểu tình và dấy loạn tiếp tục diễn ra. Ngày 13
tháng 8 trong một bầu không khí cách mạng, chíng phủ của
Thủ-tướng Wilhelm Cuno bị bắt buộc phải từ chức.
Tại Moscou, các nhà lãnh đạo Komintern suy tính là sẽ xảy ra một cuộc
cách mạng giống như cuộc cách mạng tháng 10 tại Nga. Khi cuộc bất đồng
ý kiến giửa các người lãnh đạo này đả được giải quyết, vậy ai sẽ là một
trong những người sau đây : Trotski, Zinoviev, hay là Staline, ai sẽ là
người lãnh đạo cuộc cách mạng thứ hai này ?. Tổ chức Komintern khởi đầu
một cuộc tổ chức võ trang nghiêm chỉnh để khởi loạn to, có tổ chức chu
đáo. Nhiều phái viên như August Gouralski, Mathias Rakosi được
phái sang nước Đức và cùng đi theo với họ là viên tướng Alexandre
Skoblewski với bí danh Gorev, là một chuyên viên tổ chức nội chiến. Họ
dự định là dựa vào các chính phủ của thợ thuyền ( vì nước Đức được tản
quyền cho các vùng ) nơi các vùng gồm các người xã-hội dân-chũ thiên tả
và các người cộng-sản, các chính phủ này đang trên đường thành lập để
lấy cho được một số nhiều vũ khí. Được phái đi về vùng Saxe, Rakosi dự
định cho nổ chiếc cầu hỏa xa nối liền vùng này cùng với nước Tiệp-Khắc,
để mong nước Tiệp-Khắc sẽ can thiệp vào và từ đó gây thêm được sự hổn
loạn.
Tất cả các cuộc bạo động được dự trù là sẽ phát khởi vào ngày kỷ niệm
cách mạng tháng 10 của cuộc '' putsch'' Bôn-sê-vít. Sự kích thích lan
tràn ở Moscou, họ tin tưởng là cuộc khởi loạn sẽ thành công và động
viên Hồng-quân tập trung ở biên-giới Nga-Đức sẳn-sàng tiến quân vào
nước Đức để hổ trợ các người dấy loạn. Đến trung tuần tháng 10, các
người cộng-sản chịu gia nhập vào các chính phủ thuộc vùng Saxe và
Thuringe và nhận được lịnh phải tăng cường cho các lực lượng quân dân
vô-sản ( lối vài trăm người ) gồm có 25% là các đảng viên cộng-sản.
Nhưng qua ngày 13 tháng 10, chính phủ do Gustav Stresemann đả ban hành
lịnh '' khẩn trương '' cho vùng Saxe và đặt vùng này dưới quyền lãnh
đạo trực tiếp của chính phủ trung ương, tước quyền của chính phủ vùng,
và kêu gọi sự hổ trợ của quân lực Đức- Reichswehr . Mặc dù sự kiện này
đả xãy ra, Moscou vẫn kêu gọi việc võ trang cho các công nhơn và khi
Heinrich Brandler trở về Moscou đả ra lịnh tổng đình công nhơn dịp có
một đại hội công nhơn được tổ chức ở Chemnitz vào ngày 21 tháng 10. Mưu
đồ này bị thất bại vì các người thuộc đảng xã-hội cách mạng phe khuynh
hữu đả từ chối không nghe theo các người cộng-sản. Các người cộng-sản
đành lùi bước, nhưng vì sự thông tin bị chậm trể, cuộc bạo động đả xãy
ra ở Hambourg : các toán chiến đấu người cộng-sản ( khoảng từ 200 đến
300 người ) đả tấn công vào các trụ sở của cảnh sát. Cơn bất ngờ trải
qua, các người nổi loạn đả không đạt được mục tiêu của họ ; lực lượng
cảnh-sát cùng với sự hổ trợ của quân đội Đức-Reichswehr, đả phản công
lại và sau 33 giờ đồng hồ chiến đấu, cuộc nổi dậy đả bị cô lập hoàn
toàn, các người cộng-sản ở Hambourg đả bị '' bóp tắt '' ( juguler ).
Một cuộc cách mạng thứ hai mà Moscou đả đặt nhiều hy-vọng đả không xãy
ra. Và tổ chức M. Apparat được tồn tại cho đến các năm 1930 và là một
cơ cấu quan trọng của KPD và đượợc mô tả rỏ ràng do người lãnh đạo là
Jan Valtin với tên thật là Richard Krebs.
Sau nước Đức, nước cộng
hòa Estonie là nơi đả diển ra cuộc toan tính nổi loạn thứ hai. Và củng
là lần thứ hai cộng-sản Nga đả gây sự chống lại dân tộc nhỏ bé này.
Ngày 27 tháng 10 năm 1917, một hội đồng các sô-viết đả nắm lấy quyền ở
Tallinn-Reval, họ đả giải tán quốc hội, hủy bỏ các cuộc bầu cử thất lợi
cho các người cộng-sản Estonie. Trước áp lực của đoàn quân viễn chinh
Đức, các người cộng-sản tháo lui. Trước khi quân viễn chinh Đức chiếm
đóng, người dân Estonie đả tuyên cáo '' độc lập '' vào ngày 24 tháng 2
năm 1918. Vì bị bại trận vào ngày 11 tháng 11 năm 1918, quân đội viễn
chinh Đức bị bắt buộc phải triệt thoái ; các người cộng-sản trở lại nắm
lấy sáng kiến : ngày 18 tháng 11, một chính phủ được thành lập ở
Petrograd và hai sư đoàn Hồng-quân xâm lăng nước Estonie. Mục tiêu của
cuộc tấn công này đả được giải-thích rỏ ràng trong nhựt báo : Severnaĩa
Kommuna ( công xã miền Bắc ) : Chúng tôi phải xây dựng một chiếc cầu để
nối kiêbn nước Nga sô-viết với nước Đức và Áo vô-sản... Cuộc thắng trận
của chúng tôi sẽ nối liền các lực lượng cách mạng, không ai ngăn
cản nổi, từ Tây-Âu với cách mạng Nga và nơi đó sẽ tạo lên một cuộc cách
mạng xã-hội toàn cầu. Tháng Giêng năm 1919, khi tiến quân còn cách thủ
đô Estonie ba chục cây số thì Hồng-quân đả bị quân lực Estonie phản
công và bị chận đừng lại. Hồng-quân tái tấn công lại lần thứ hai nhưng
rồi củng bị thất bại. Ngày 2 tháng 2 năm 1920, do hòa ước ký ở Tartu,
các người cộng-sản Nga nhìn nhận nền độc-lập của Estonie. Trong những
vùng tiến quân xâm lăng, các người Bôn-sê-vít đả thực hành các cuộc tàn
sát : Trước khi rút lui ngày 14 tháng Giêng năm 1920 tại Tartu họ đả
tàn sát 250 người và ở địa hạt Rakvere củng đả có trên 1000 người đả bị
giết chết. Khi quân lực Estonie giải phóng được thị trấn
Wesenberg vào ngày 17 tháng Giêng, họ đả phát giác ra ba hố chôn tập
thể với 86 tử thi. Ở thị trấn Dorpad, các người con tin bị xữ bắn ngày
26 tháng 12 năm 1919, những người nạn nhơn đả bị tra tấn, tay chân đều
bị đánh gảy, có nhiều người đả bị móc mắt. Ngày 14 tháng Giêng, trước
khi rút lui, các người Bôn-sê-vít chỉ còn đủ thời gian để hành quyết 20
người trong số này có vị tổng giám mục Platon, những người này ở trong
số 200 người mà họ còn bị bắt giam. Họ đả bị dùng bá súng và búa rìu
đánh chết, có một số sĩ-quan đả bị lấy đinh sắt đóng hai chiếc cầu vai
( épaulette ) vào thân thể, các người bị giết này đả khó có thể nhận ra
được dạng người ( difficilement identifiable ).
Tuy là đả ký hòa ước các người Bôn-sê-vít Nga vẫn tiếp tục tìm cách lôi
kéo nước cộng hòa bé nhỏ này vào vùng quỷ đạo ảnh hưởng của họ. Tháng 4
năm 1924, đả diển ra một cuộc '' họp mật '' ở Moscou, giửa Zinoviev và
các người cộng-sản Estonie để bàn thảo cách thức tạo nên một cuộc nổi
loạn bằng vũ lực. Các người cộng-sản đả thâu nhận được lối 1000 người
tổ chức thành nhiều đại đội với các cấu tạo căn bản và bắt đầu việc
lũng đoạn cùng làm khủng hoảng tinh thần của quân lực Estonie. Họ dự
định tạo một cuộc khởi loạn và một cuộc đình công để ủng hộ cuộc khởi
loạn. Khi ấy đảng cộng-sản Estonie có khoảng 3000 đảng viên và họ bị
đàn áp dử dội. Qua ngày 1 tháng 12 năm 1924, họ toan tính cướp chính
quyền ở Tallin để tuyên cáo thành lập một Cộng-hòa Xô-viết với nhiệm vụ
chính là xin gia nhập vào nước Nga Sô-viết, như vậy chứng minh được
việc đưa Hồng-quân vào lãnh-thổ Estonie. Mưu toan này đả thất bại cùng
trong ngảy đó. Trong khi mưu toan này đang diển tiến, các vị sĩ-quan đả
đàu hàng các người nổi loạn hay là đả tỏ ra thái độ không theo bên nào
liền bị xử bắn vì thái độ của họ : các người đảo chính không chấp nhận
thái độ này, chỉ có người chịu theo họ thì được an toàn mạng sống.
Người chỉ huy cuộc đảo chánh này là Jan Anvelt, đả tẩu thoát được sang
Nga. Y là một cán bộ của tổ chức Komintern trong nhiều năm và đả ''
biến mất '' sau các cuộc '' thanh trừng ''.
Sau nước Estonie, đến lượt nước Bulgarie. Năm 1923 tại nước này đả xãy
ra nhiều cuộc rối loạn trầm trọng. Lãnh tụ đảng Điền-địa là Alexandre
Stamboliski đả liên minh với các người cộng-sản, ông này đả bị ám sát
vào tháng 3 năm 1923 và người thay thế ông ở ghế Thủ-tướng là Alexandre
Tsankov, ông đả được sự ủng hộ và hổ trợ của quân đội và công an. Qua
đến tháng 9, các người cộng-sản phát động một cuộc nổi loạn kéo dài
trong vòng một tuần lễ và cuộc nổi loạn này đả bị đàn áp dử dội. Bắt
đầu từ tháng 4 năm 1924, họ đổi chiến thuật và thi hành các hành động
trực tiếp và tạo ra các cuộc ám sát. Ngày 8 tháng 2 năm 1925, họ tấn
công vào quận Godetch và gây ra 4 người chết. Ngày 11 tháng 2, tại thủ
đô Sofia, dân biểu Nikolas Mileff, giám đốc nhựt báo Slovet và là chủ
tịch của nghiệp đoàn các ký giả, đả bị ám sát chết. Ngày 24 tháng 3 một
bản tuyên cáo của đảng cộng-sản Bulgarie-BKP, đả báo trước là chính phủ
của Tsankov sẽ không tránh khỏi được việc bị lật đổ, như vậy đả tiết lộ
ra sự liên quan các hành động khủng bố với các mục tiêu chính trị của
những người cộng-sản. Đầu tháng 4, một cuộc âm mưu ám sát vua Alexandre
đệ nhất đả gần như thành công, và đến ngày 15 tháng 4, tướng Kosta
Georghieff một người thân cận của vua đả bị ám sát chết.
Rồi một loạt biến cố khác đả xãy ra trong các năm bạo động về chính trị
: Ngày 17 tháng 4, trong lúc cử hành tang lễ cho tướng Georghieff, ở
tại nhà thờ Septs-Saints tại thủ đô Sofia, một tiếng nổ lớn đả xãy ra
khiến cho các nóc chính của nhà thờ bị sụp đổ : người ta ghi nhận được
biết : có 14 vị tướng, 16 vị sĩ-quan cao cấp, 3 nghị viên trong số 140
người chết. Theo lời tường thuật của Victor Serge thì chính phân chi
quân sự của đảng cộng-sản Bulgarie đả tổ chức cuộc phá hoại giết người
này. Các người thủ phạm chính là Kosta Iankov và Ivan Minkov . Họ đả bị
giết chết vì đả chống cự lại lúc bị bắt, khi trên tay còn cầm vũ khí.
Sau khi lãnh chịu các cuộc
thất bại tơi bời ở Âu-châu, tổ chức Komintern dưới sự thúc đẩy của
Staline đả tìm ra một chiến trường mới, họ hướng các cố gắng của họ về
nước Trung-quốc. Nước này đang ở vào một tình trạng hổn loạn,
vì xảy ra các cuộc nội chiến và các cuộc tranh chấp xã-hội ; với đà
tiến (élan ) của tinh thần quốc-gia, nước rộng bao la này hình như đả
'' chín mùi '' cho cuộc cách mạng '' chống lại đế quốc ''. Dấu hiệu của
thời đại : mùa Thu năm 1925 các người sinh-viên Trung-quốc đang theo
học tại Đại-học cộng-sản của các công nhơn Phương-Đông KUTV, được thành
lập vào tháng 4 năm 1921 được tập họp lại ở một viện Đại-học Sun Yat
Sen ( Tôn-Dật-Tiên ). Hồ-Chí-Minh từ Pháp sang là học viên đầu tiên của
KUTV.
Dưới sự huấn luyện của các vị lãnh tụ tổ chức Komintern và các cơ-quan
sô-viết, các người cộng-sản Trung-quốc, vào lúc này Mao-Trạch-Đông chưa
lãnh đạo đảng cộng-sản Trung-quốc, các người sinh-viên cộng-sản đả được
khuyến khích liên minh chặc chẻ với đảng quốc-qia, đảng Quốc-dân và vị
lãnh đạo của đảng này, là viên tướng trẻ tuổi Tưởng-Giới-Thạch. Chiến
thuật mà các người cộng-sản đả chọn lựa là bao vây Quốc Dân Đảng để
biến đảng này thành một con ngựa của thành Troie khi cuộc cách mạng
được phát động. Người đặc phái của tổ chức Komintern tên Mikhaĩl
Borodine đả đạt được chức cố vấn bên cạnh Tưởng-Giới-Thạch. Năm 1925, phe tả khuynh của Quốc-Dân-Đảng,
phe này chủ trương hợp tác chặc chẻ với Liên-bang Sô-viết, phe này đả
nắm được quyền lãnh đạo Quốc-Dân-Đảng. Các người cộng-sản gia
tăng các cuộc tuyên truyền của họ, khuyến khích các cuộc sôi nổi về
xã-hội để củng cố ảnh hưởng của họ, và gần như đả chế ngự được Đại-hội
2 của Quốc-Dân-Đảng. Nhưng chẳng bao lâu, một chướng ngại vật đả hiện
ra trước mặt họ : Tưởng-Giới-Thạch đả lo âu trước sự bành trướng của
ảnh hưởng cộng-sản. Ông đả kết luận và kết luận đúng là các người
cộng-sản muốn loại ông ra khỏi cơ quan lãnh đạo. Ra tay trước, ngày 12
tháng 3 năm 1926 ông tuyên bố thiết quân luật, cho bắt giam các phần tử
cộng-sản nằm trong lòng Quốc-Dân-Đảng luôn cả các vị cố vấn sô-viết,
các người này được trả tự do vài ngày sau đó và bất tín nhiệm người cầm
đầu các người thiên tả nằm trong đảng của ông, sau đó ông đưa ra một
hiệp ước ( pacte ) gồm có 8 điểm để hạn chế các đặc quyền và các hành
động cộng-sản trong lòng đảng. Tưởng-Giới-Thạch đả trở thành vị lãnh
đạo, không thể chối cải được của quân lực quốc-gia. Đứng trước sự tương
quan các lực lượng, Borodine đành phải chấp nhận.
Ngày 7 tháng 7 năm 1926,
được viện trợ của Liên-Bang Sô-viết một số vũ khí quan trọng,
Tưởng-Giới-Thạch liền phát động một cuộc Bắc phạt, ra lịnh cho các đạo
quân quốc-gia tiến công vào các vùng Bắc nước Trung-quốc còn nằm dưới
quyền các vị sứ quân. Ngày 29 tháng 5, ông tuyên bố thiết quân
luật ở Quảng-châu . Các vùng nông thôn thuộc các tỉnh Hồ-Bắc và Hồ Nam,
đả là các con mồi cho cuộc cách mạng điền địa và do tình cách hiếu động
( dinamique ) đả đặt lại vấn đề liên minh giữa các người cộng-sản và
các ngươbi quốc-gia. Trong các thành phố lớn vào thời đó có nhiều cơ
xưởng quan trọng, các nghiệp đoàn đả kêu gọi đình công như thành phố
Thượng-Hải, khi các lực lượng quân đội tiến quân đến gần các thành phố
này. Các người cộng-sản trong số này có ông Chu Ân-Lai đả kêu gọi nổi
loạn, hy vọng là quân lực quốc gia sẽ tiến mau vào các thành phố. Nhưng
không có việc gì xảy ra. Cuộc nổi loạn ngày 22, 24 tháng 2 năm 1927 đả
thất bại và các người đình công đả bị viên tướng Li Baozhang đàn áp dử
dội.
Ngày 21 tháng 3, một cuộc tổng đình công lớn đả diển ra và một cuộc nổi
loạn lớn đả lật đổ chính quyền tại chổ. Một sư đoàn của Quốc quân với
vị tướng chỉ huy đả nhận định là cần phải can thiệp, đả ra lịnh tiến
quân vào Thượng-Hải và vị tướng này đả được Tưởng-Giới-Thạch tiếp tay
và quyết định nắm lại tình thế. Họ đả thành công và Staline đả bị bao
vây bởi những ám ảnh các chiều hướng '' chống đế quốc '' của
Tưởng-Giới-Thạch và nơi quân đội quốc-gia của ông ; vào cuối tháng 3,
ông đả ra lịnh chôn dấu vũ khí và tiếp tục đường lối chung với
Quốc-Dân-Đảng. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng-Giới-Thạch cho tái diển
lại Quảng-Châu cục hành quân mà ông đả thi hành ở Thượng-Hải : các
người cộng-sản bị truy bắt và bị bắn hạ.
Nhưng Staline cần phải
thay đổi chính sách vào lúc thời điễm đang vào lúc đen tối ; để khỏi
phải mất mặt trước các lời chỉ trích của những người đối lập, ông đả
phái đi hai người thân cận, Vissarion Lominadze và Heinz Neumann để tái
phát động lại phong trào nổi loạn, sau khi đả dứt bỏ '' liên minh với
Quốc Dân Đảng ''. Mặc dầu bị thất bại do cuộc '' nổi loạn vào
mùa gặt mùa Thu '' do 2 phái viên nói trên chủ đạo, họ vẩn kiên
trì để tạo được cuộc nổi loạn ở Quảng-Châu để có thể, theo như
nhận thức của Souvarine là tạo cho vị thủ lãnh một bản tin thắng trận,
vào cùng lúc đại hội thứ 15 của đảng Bôn-sê-vít được họp và Staline đả
nhơn dịp này khai trừ các người đối lập với ông. Thủ đoạn này (
manoeuvre ) đả cho thấy rỏ cường độ của việc coi rẻ mạng sống của con
người, mà nhiều người Bôn-sê-vít đả thực hành dù là đối với các người
cùng phe hay thân họ và đây củng là một việc mới mẻ. Việc tạo dựng một
cách vô ý thức Công-Xã Quản-Châu đả chứng minh cùng một ý nghĩa và củng
không khác gì các hành động khủng bố đả xảy ra ở Bulgarie vài năm trước
đó.
Vài ngàn người nổi loạn đả phải chiến đấu ròng rả trong 48 giờ đồng hồ
để đương đầu lại một lực lượng đông hơn họ gấp 5 hay 6 lần, tính về
nhơn số. Công-xã ở Trung-quốc đả không được chuẩn bị trước : từ số vũ
khí không đủ và nằm vào một hoàn cảnh chính trị bất lợi, các công nhơn
người Quảng-Đông chỉ còn sống trong tình cảnh chờ đợi. Trong buổi tối
đêm 10 tháng Chạp năm 1927, các lực lượng trung tín đả tiến chiếm vị
trí tại các nơi tập họp đả được dự định trước cho các vệ binh đỏ. Củng
giống như những gì đả xảy ra tại Hambourg, các người nổi loạn đả hưởng
được các lợi điễm của các sáng kiến nhưng các lợi điễm này mất dần dần.
Trong buổi sáng ngày 12 tháng Chạp, việc tuyên cáo thành lập một ''
cộng-hòa sô-viết '' không gây được một tiếng vang nào ở trong dân
chúng. Trong buổi trưa, các lực lượng thuộc quân lực Quốc-Dân-Đảng bắt
đầu phản công. Sau hai ngày, lá cờ đỏ được treo trên mái nhà của cơ
quan công an được kéo xuống. Cuộc đàn áp đả diễn ra một cách man rợ và
đả có nhiều ngàn người bị giết.
Tổ chức Komintern cần phải
đúc kết những bài học của những cuộc thử nghiệm này, nhưng khó có thể
cho họ bàn đến các vấn đề chính trị căn bản. Một lần nửa, sự bạo động
đả được chứng minh đối với và chống tất cả bằng các danh từ đả được
thuấn nhuần trong một nền văn hóa nội chiến, cho các người cán bộ
cộng-sản. Được đọc trong : Võ trang bạo động nơi câu dẩn nhập
của một lời kiểm thảo khủng khiếp với một lời kết thúc rỏ ràng : ''
Người ta đả không chú ý đến việc loại bỏ các người phản cách mạng xuốt
trong thời gian của Công xã Quản-châu, người ta chỉ giết có lối 100
người, nằm ở trong tay các người nổi loạn. Tất cả các người bị bắt giam
chỉ bị hành quyết sau khi được một ủy ban chống lại bọn phản động.
Trong lúc đang giao tranh và giửa cuộc nổi loạn, hình thức tố tụng đả
quá chậm chạp và bài học này đả được ghi nhớ ''.
Sau cuộc thãm bại này, các người cộng-sản rút lui ra khỏi các thành phố
và tái tổ chức lại ở các vùng xa xôi của nông thôn và khởi đầu vào năm
1931, tổ chức ở các vùng Hồ-Nam Giang-Tây các '' vùng giải phóng ''
được sự che chở của một đạo quân đỏ. Một tư tưởng chế ngự các người
cộng-sản Trung-quốc là : hảy còn quá sớm cho cuộc cách mạng diễn ra,
trước tiên là vấn đề quân sự, đề cử ra việc tạo các cơ cấu chính trị bộ
máy quân sự cho đến khi Mao-Trạch-Đông đủ tóm tắc công thức lừng danh
của ông : Quyền lực và mủi súng tạo ra, các diển tiến về sau này đả
chứng tỏ rằng đó là các tinh túy mà nhản quan của cộng-sản dùng để nắm
lấy quyền lực hay duy trì quyền lực này.
Nhưng với các thất bại liên tiếp ở Âu-Châu trong các năm đầu của thập
niên 1920, và cuộc thãm bại ở Trung-quốc đả không làm sờn lòng các
người lãnh đạo tổ chức Komintern để đeo đuổi đường hướng. Tất cả cáác
đảng cộng-sản, gồm cả các đảng hợp pháp ở các nước dân chủ đýu có trong
lòng họ ( en son sein ) một bộ máy quân sự bí mật, và có thể sẽ công
khai ra mặt nếu trường hợp cho phép. Khuôn mẫu của KDP ở Đức-quốc và
được đặt dưới sự kiễm soát chặt chẻ của các cố vấn quân sự sô-viết, đả
tổ chức một '' M. (militar ) Apparat '' có nhiệm vụ thủ tiêu các ngườbi
lảnh tụ đối lập ( dành riêng cho các người đối lập cực hữu ) và các tên
'' mật thám chỉ điểm '' ( mouchard ) len lỏi vào hàng ngủ của đảng
cộng-sản. Họ củng có nhiệm vụ huấn luyện và chỉ huy các toán bán quân
sự, các đội Rote Front ( mặt trận đỏ ) và họ có hàng ngàn đảng viên. Sự
thật là trong thời điễm của nền cộng-hòa Weimar các cuộc bạo động về
chính trị được coi là đả diển ra toàn diện ; và nếu các người cộng-sản
đả chiến đấu chống lại các phần tử cực hữu và phong trào Quốc xã đang
chớm vươn lên, họ không ngần ngại gì mà không tấn công các cuộc tập họp
xuống đường của các người thuộc đảng xã-hội mà họ đả gán cho danh từ :
các người xã-hội phản bội và các người xã-hội phát xít. Họ củng tấn
công các nhơn viên cảnh sát, các cộng hòa mà họ coi là phản động và
củng là phát-xít. Các diễn biến xảy ra sau năm 1933, đả cho biết ai là
kẻ '' phát-xít thứ thiệt '' đó là phong trào Quốc-xã và nếu họ khôn
ngoan hơn, họ cần phải liên-minh với các người thuộc đảng xã-hội để
chống giữ một nền dân chủ mà họ gọi là của các người tư-sản trưởng giả.
Nhưng các người cộng-sản đả từ khước nền dân chủ này.
Ở nước Pháp không khí
chính trị trầm lặng hơn, đảng cộng-sản Pháp PCF củng có tạo lập các
toán võ trang. Một ủy viên thuộc bộ chính trị trung ưöng tên Albert
Treint được giao phó nhiệm vụ này. Trong thời chiến tranh ông
đả mang chức Đại-úy của quân lực Pháp và ông có nhiều khả năng về quân
sự. Ngày 11 tháng Giêng năm 1924 nhơn dịp một nhóm ngưới vô chính phủ (
anarchiste ) phản đối chống lại một cuộc mít-ting của đảng cộng-sản
Pháp tổ chức, Albert Treint đưa toán tổ chức võ trang xông vào
diễn đàn để can thiệp, họ đả chỉa súng lục và bắn vào các người chống
đối : kết quả có 2 người chết và có nhiều người bị thương ! Vì không có
bằng chứng, không có một kẽ sát nhơn nào bị truy tố. Hơn một năm về
sau, một vụ tương tợ lại xãy ra : Ngày thứ năm 23 tháng 4 năm 1925, vài
ngày trước ngày bầu cử các thị xã, các lực lượng giử trật tự của đảng
cộng-sản Pháp đả đến phá rối lúc tan cuộc họp bầu cử, của các toán
thanh niên ái quốc, một tổ chức của phe cực hữu, ở trong quận 18 Paris,
đường Damrémont. Vài người lãnh đạo có võ trang và không ngần ngại gì
mà không dùng đến súng. Ba người lãnh đạo của các thanh niên ái-quốc bị
bắt giữ và cảnh sát đả đến khám xét các nơi cư ngụ của các nhà lãnh đạo
cộng-sản.
Mặc dầu gặp các khó khăn, đảng cộng-sản Pháp vẫn duy trì đường lối. Năm
1926, đảng ũy nhiệm cho Jacques Duclos, một dân biểu cộng-sản vừa được
trúng cử và được hưởng quyền miễn truy tố nghị trường, đứng ra thành
lập các toán '' tự vệ chống phát-xít '' gồm các cựu chiến binh của trận
chiến 1914-1918 và các vệ-binh chống phát-xít gồm các thanh niên
cộng-sản ; các tổ chức bán quân sự này được tổ chức theo khuôn mẫu của
Rote Front của Đức và ngày 11 tháng 11 năm 1926 đả diển hành và vận
đồng phục. Song song Jacques Duclos tổ chức các cuộc tuyên truyền chống
lại chủ nghĩa quân sự và cho phát hành một nguyệt san tên '' người
chiến sĩ đỏ '', nguyệt san này huấn luyện về nghệ thuật nội chiến, mô
tả và nghiên cứu cách chiến đãu trong thành phố, trên các đường phố
v.v.. Năm 1913 tồ chức Komintern cho phát hành với nhiều thứ tiếng khác
nhau, quyển sách : '' nổi loạn võ trang '', dưới bút ký Neuberg nhưng
thực sự là một việc làm của tập thể các người lãnh đạo sô-viết : Cuộc
nổi loạn ở Tallin do tướng Iossif Ounschlicht, phân tích và nghiên cứu,
cuộc nổi loạn ở Hambourg do Hans Kippenberger phụ trách, cuộc nổi loạn
ở Quảng-châu do tướng Vassili Blücher và Hồ Chí Minh và củng đả đề cập
đến việc các người nông dân nổi loạn khởi đầu từ năm 1920 ; quyển sách
này được tái xuất bản ở Pháp vào năm 1934. Và khi ở Pháp đả diển ra ''
khúc quẹo '' về chính trị vào năm 1934 với việc thành lập Mặt trận bình
dân ( Front populaire ) và vì vậy vai trò căn bản của '' việc bạo động
'' trong thực hành chủ nghĩa căn bản, đả tạm thời được xếp vào
loại hai, nhưng không vì vậy mà làm giảm bớt việc thi hành bạo động.
Tất cả các sự chứng minh của các hành động bạo động, việc thi hành hàng
ngày các sự thù ghét về giai cấp, việc lý thuyết hóa nội chiến và các
cuộc khủng bố đả gặp được môi trường thuận lợi để '' nảy sinh '' với
cuộc chiến tranh ở Espagne xảy ra vào năm 1936. Tổ chức Komintern đả
gởi qua đây rất nhiều cán bộ và các người cán bộ này đả nổi tiếng trong
các việc đàn áp của người cộng-sản.
Tất cả các việc tuyển lựa,
huấn luyện và sửa soạn cho các người cán bộ bản xứ để tổ chức các cuộc
nổi loạn vỏ trang trong tương lai đều được thực hiện với việc liên lạc
chặc chẻ của cơ quan mật vụ sô-viết hay nói đúng hơn với cơ quan mật
tên GROu, tên viết tắt của Glavsnoe Razvedatelnoe Oupravlenie, hay là
Tổng Nha Trung Ương Tình-Báo, đả được thành lập dưới sự che chở của
Strotski với sự giám sát của phòng Đệ Tứ của Hồng-Quân và trong các
sách vở bằng tiếng Anh được biên là GRU. Cơ quan này không bao
giờ ngừng việc '' giáo dục '' là dù ở trong nhiều trường hợp đả bắt
buộc họ phải rút lui đại qui mô. Việc đáng ngạc nhiên là các cán bộ trẻ
tuổi được sự tin cậy của đảng cộng-sản Pháp, vào đầu các năm của thập
niên 1970 còn được gởi sang Liên-bang Sô-viết, để thụ huấn các lớp dạy
cách xữ dụng các vũ khí thông thường ( tập bắn, tháo ráp và xữ dụng các
loại vũ khí ) chế tạo các vũ khí thô sơ, các kỹ thuật phá hoại, các kỹ
thuật truyền tin ; do các toán thuộc lực lượng đặc biệt sô-viết tên
Spetsnaz phụ trách, các toán này được đặt dưới quyền xữ dụng của các cơ
quan mật vụ sô-viết. Ngược lại, cơ quan GROu có sẳn các người chuyên
môn về quân sự và sẳn sàng phái các người này sang phục vụ các đảng
cộng-sản anh em khi nào cần. Một thí dụ : Alfred Stern người gốc
Áo-Hung đả được biệt phái qua phục vụ '' M. Apparat '' thuộc đảng KPD
để tổ chức cuộc nổi loạn ở Hambourg vào năm 1923. Sau y được phái sang
hoạt động ở Trung-quốc và ở Mản-châu trước hki mang tên là '' tướng
Kléber '' chỉ huy Trung đoàn Quốc-tế đả nổi danh trong trận nội chiến
xảy ra ở Espagne.
Các bộ máy quân sự bí mật này với các thành viên không phải là những ''
thiếu niên ngây thơ ở các giáo đường ''. Họ là những con người gần như
là các giới kẻ cướp ( bandit ) và các toán người này họp lại thường trở
thành các đảng ăn cướp. Một trong các việc điển hình đả xảy ra vào cuối
các năm thuộc thập niên 1920 : Các toán vệ binh đỏ, hay các trung đội
đỏ của đảng cộng-sản Trung-quốc. Họ đả hoạt động ở thượng hải lúc ấy
được coi là trung tâm khủng bố của đảng. Dưới sự chỉ huy của Gu
Shunzhang, một tên cựu đạo tặc thuộc hội kín Thanh-đảng ( bande verte
), một băng đảng mafia mạnh nhứt trong hai băng đảng đang lộng hành vào
thời đó ở Thượng-hải-Shanghai, các thuộc hạ của Gu đả đương đầu với các
toán áo sơ mi màu lam, một tổ chức thanh niên của Quốc dân đảng theo
khuôn mẫu của phát-xít, trong các trận đánh đáng nghi ngờ, khủng bố
chống lại khủnh bố, phục kích chống lại phục kích, các vụ ám sát cá
nhơn chống lại ám sát cá nhơn. Tất cả đều được hưởng sự giúp đở sự giúp
đở của tòa Lãnh sự Liên-bang Sô-viết ở Shanghai và tòa Lãnh-sự này củng
có các người chuyên môn về các vấn đề quân sự như tên Gorbatiouk
cùng các tên khác để thi hành các lệnh dơ dáy.
Năm 1928, các thuộc hạ của
Gu đả thủ tiêu một đôi vợ chồng lãnh tụ theo y đả trở cờ về phe công-an
: trong khi họ đang ngủ, đó là He Jia Xing và He Je Hua bằng cách bắn
đầy người họ trên chiếc giường ngủ. Để làm lấn áp tiếng nổ súng, họ đả
cho đót một tràng pháo ở ngoài đường. Và trong lòng đảng, để loại những
người chống đối họ cũng đả dùng những phương pháp tương tợ. Chỉ cần các
lời tố cáo là cũng đủ để bị giết chết ngay. Ngày 17 tháng Giêng
năm 1931, quá giận vì đả bị mưu mô của Pavel Mif, đại diện tổ chức
Komintern, cùng với các người lãnh tụ còn trung thành với Moscou, lãnh
tụ He Meng Xiong cùng với lối 20 đồng chí thuộc '' phân bộ công nhơn ''
đả hội họp ở nhà hàng Đông Phương ở Shanghai. Họ vừa khởi đầu cuộc thảo
luận thì các công an viên cùng với các nhơn viên của văn phòng
Trung-ương Điều tra của Quốc-dân đảng tên Diaocha tonzhi ập vào, tay
cầm vũ khí và bắt tất cả bọn. Các người quốc gia đả được một tên vô
danh báo cho biết nơi họp.
Tháng 4 năm 1931, Gu đào ngủ và trở về hàng ngũ của Thanh-đảng ( bande
verte ) cùng với việc y đầu hàng Quốc Dân đảng ( y đả gia nhập tổ chức
so-mi-xanh ), một ủy-ban đặc biệt do 5 người lãnh tụ cộng-sản đả được
thành lập để nối tiếp các hoạt động ở Shanghai. Ủy ban này gồm có Kang
Sheng, Guang Huian, Pan Hannian, Chen Yun et Ke Qingshi.
Đến năm 1934, tất cả các cơ quan, của cộng-sản Trung-quốc trong thành
phố Shanghai, đả bị phá vở hoàn toàn. Hai lãnh tụ các toán võ trang là
Ding Mocun và Li Shiqun đều bị lần lượt lọt vào tay Quốc-Dân đảng. Họ
chịu đầu hàng, và sau đó đến năm 1937, khi quân đội Nhật
chiếm đóng thành phố này họ quay sang phục vụ cho người Nhật. Cả
hai đều chết thê thãm Ding Mocun bị xữ bắn vào năm 1947 với tội '' phản
quốc '' còn Li Shiqun bị viên sĩ quan Nhật mà y phục vụ, đả thuốc độc
giết y. Còn về phần Kang Sheng từ năm 1949 đến năm y chết vào năm 1975
là viên chỉ huy cơ quan công an mật vụ của chế độ Mao-Trạch-Đông và là
một trong những tay đao phủ chính chống lại nhơn dân Trung-quốc dưới
chính quyền cộng-sản.
Việc thường xãy ra là các
đảng viên của các đảng phái khác và các đảng viên của đảng cộng-sản
thường được các cơ quan sô-viết đặc biệt chiếu cố để dùng vào các dịch
vụ đặc biệt mà họ cần thi hành. Đó là vụ Koutiepov đả diễn ra :
Năm 1924, Đại Quân Công Nicolas, người được coi là có thể kế vị Nga
Hoàng đả gọi tướng Alexandre Koutiepov đến Paris để chỉ huy ũy ban liên
họp tổng quát quân sự ( ROVS ). Đến năm 1928 cơ quan Guépou quyết đînh
làm tan vỡ ũy ban ROVS. Ngày 26 tháng Giêng tướng Koutiepov mất tích.
Có nhiều tin đồn được đưa ra và củng có nhiều tin do các người sô-viết
tung ra. Hai cuộc điều tra độc lập đả cho biết ai là kẻ chủ mưu của vụ
bắt cóc : Cuộc điều tra của người đảng viên cao niên thuộc đảng xã-hội
Nga là Vladimir Bourtzev, ông này đả trở nên lừng danh khi ông lột mặt
nạ tên Evno Azev, một nhơn viên của cơ quan Okhrana đả len lỏi
vào cấp lãnh đạo của tổ chức tranh đãu của các người xã-hội cách mạng
và cuộc điều tra của ký giả Jean Delage thuộc tờ báo Tiếng Vang của
Paris ( l'Écho de Paris ). Delage đả cho biết là tướng Koutiepov đả bị
bắt cóc và đưa ra Houlgate, một thành phố ở bờ biển Manche và chuyển
xuống một chiếc tàu sô-viết tên là Spartak và chiếc tàu này đả rời bến
vào ngày 19 tháng 2. Từ đó không còn ai biết viên tướng này ra sao ?
Ngày 22 tháng 9 năm 1965 viên tướbng sô-viết Chimanov đả thuật lại tất
cả diển biến của việc này mà ông biết người phụ trách, tờ báo Ngôi Sao
Đỏ của Hồng-quân đả cho biết tên của người chịu trách nhiệm : Serguei
Pouzitski, ngoài việc tham dự việc bắt giam tên ăn cướp Savinkov
đả oai nghiêm chỉ huy việc bắt cóc tướng Koutiepov và nhiều vị chỉ huy
khác của Bạch quân. Tổ chức các người di cư tị nạn cộng-sản đả bị các
nhơn viên của cơ quan Guépou xâm nhập : Từ năm 1929, cựu Bộ-trưởng
chính phủ của Đề-đốc Koltchak thuộc Bạch-quân, tên là Serguei
Nicolavevitch Trétiakov đả bí mật gia nhập hàng ngũ sô-viết và dưới bí
số UJ/1 và tên mật mã là Ivanov. Nhờ những tin tức và các chi tiết của
Trétiakov đả thông báo cho viên chức liên lạc với y, người này tên là
Vetchinkine, Moscou đả nắm vững những cuộc di chuyển của tướng
Koutiepov. Một toán còm măng đô đả chận xe của viên tướng này ngay giữa
các đường phố dưới dạng là một cuộc kiễm soát của cảnh sát. Một người
Pháp tên là Honel, làm nghề sửa xe hơi ở Levallois-Perret đả hóa trang
bận sắc phục của cảnh sát lưu thông đả yêu cầu tướng Koutiepov đi theo
y. Một người Pháp khác đả dính líu vào vụ này tên là Maurice Honel, em
của tên nói trên, đả có liên lạc với mật vụ sô-viết. Tên Maurice Honel
đả trúng cử dân biểu cộng-sản vào năm 1936. Koutiepov đả từ chối quy
thuận, ông đả bị đâm chết bằng một lưởi dao găm và sác của ông được
chôn ngay ở dưới hầm xưởng sửa xe của tên Honel.
Người thừa kế củba Koutiepov làb tướng Miller, ông có người phụ tá là
tướng Nikolai Skobline, lại là một nhơn viên của bọn sô-viết. Với người
vợ là ca-sĩ Nadejda Plevitskaia, Skobline tổb chức ở Paris cuộc bắt cóc
tướng Miller. Ngày 22 tháng 9 năm 1937 Miller mất tích. Ngày 23 tháng 9
chiếc tàu sô-viết Maria Oulianovna rời bến Le Havre. Đền lượt tướng
Skobline củng biến mất, các sự nghi ngờ đả trở nên chính sác. Tướng
Miller thật sự đả hiện diện trên tàu Maria Oulianovna mà chính phủ Pháp
đã từ chối không chận xét. Được đưa về Moscou và sau khi chịu cuộc hỏi
cung, tướng Miller đả bị giết chết.
Tài liệu tham khảo : Lịch sử tình báo thế giới- Quyển 1 từ 1870-1939 /
nhà xuất bản Laffont 1993 ; Các tội ác sô-viết trước tòa đại hình quận
Sein 5-14 tháng 12 ; Vụ bắt cóc tướng Miller do tướng Skobline ; Vụ án
Plevitzkaia và lời biện hộ của luật sư Me Maurice Ribet : nhà in
Tòa án 1939. Viên tướng sẽ chết vào nửa đêm / nhà xuất bản Plon 1981.
Nước Nga của các con ma ; Các di dân Nga từ 1920-1950 nhà xuất bản
Harmattan 1955.
Chế độ độc tài - Tội ác hóa các người chống đối - Đàn áp trong lòng tổ
chức Komintern
Theo lịnh của Moscou, tổ chức Komintern duy trì ở các đảng cộng-sản một
toán võ trang và chuẩn bị tổ chức các cuộc nổi loạn để gây ra nội chiến
chống lại chính quyền đang tại chức, tổ chức này củng đưa vào lòng của
tổ chức mình các phương pháp công an và khủng bố đả được thưc hành ở
Moscou và ở Liên-bang Sô-viết. Nhơn cuộc Đại-hội lần thứ 10 của Đảng
cộng-sản sô-viết, được tổ chức từ ngày 8 đến 16 tháng 3 năm 1921, trong
lúc chính quyền sô-viết đang phải đương đầu với cuộc nổi loạn ở
Cronstadt, các văn bản về một chế độ độc tài đả được thảo ra, ngay cả
trong lòng đảng. Trong lúc chuẩn bị cho cuộc đại-hội, tám '' hình thức
'' khác nhau đả được đề nghị và đưa ra dể bàn thảo. Các cuộc tranh luận
này là những di tích chót của nền dân chủ và nền dân chủ đả không được
'' tự đặt '' trên đất Nga. Và một loại dân chủ chấp nối, vá víu (ersatz
) cũng không còn tồn tại bao lâu. Ngày thứ hai của đại-hội, trong lúc
súc tiến các công việc, Lénine đả lên tiếng : '' Các đồng chí, chúng ta
không cần đối lập, vì lúc này không phải là lúc. Các đồng chí có trách
tôi củng chả được việc gì vì đó là do hoàn cảnh tạo ra. Hởi các đồng
chí, từ nay trở đi đừng nói đến đối lập nửa. Theo ý kiến của tôi, các
đồng chí ở đây hay là ra chiến đấu ở Cronstadt, tay cầm súng. Hội nghị
phải đi đến kết luận đả đến lức chấm dứt việc đối lập, hảy hạ màn về
việc này, chúng ta dả quá chán ngán về việc đối lập. Lénine đả nhắm vào
những người tuy là không tạo thành một nhóm, theo nghỉa chính không có
một bản báo cáo, đả tập họp dưới hình thức được gọi là Công-nhơn
chống-đối, các tên Alexandre Chliapnikov, Alexandra Kollontai,
Loutovinov và với hình thức Trung-ương Dân-chủ gồm có Timothée
Sapronov, Gabriel Miasnikov.
Ngày 16 tháng 3 khi Đại-hội đả gần như sắp bế mạc, có hai nghị-quyết
được đưa ra vào lúc chót : '' Nghị quyết thứ nhất nói về việc ' đồng
nhất của đảng ' và nghị quyết thứ hai nói về các việc ' trật hướng của
các phong trào nghiệp đoàn và tinh thần vô chính phủ ' nằm trong lòng
đảng, nhắm vào nhóm Công-nhơn chống đối. Nghị quyết thứ nhất đòi việc
giải tán tức thời tất cả các nhóm được thành lập đúng theo các hình
thức riêng biệt, nếu từ chối sẽ bị đuổi ra liền khỏi hàng ngủ của đảng.
Một bản không được đưa ra của nghị quyết này và được giử '' mật '' cho
đến tháng 10 năm 1923 đả ũy quyền cho Ủy-ban Trung-ương được quyền
tuyên án các cuộc trừng phạt. Cơ quan công an của Feliks Dzerjinski lại
có dịp để mở rộng tầm truy xét : Tất cả các nhóm đối lập nằm trong lòng
đảng sẽ bị luôn luôn theo dỏi, canh gác và nếu cần đuổi ra khỏi đảng.
Việc này đối với các người lãnh đạo chơn chính là : '' cái chết trên
trường chính trị ''.
Nhận thấy việc cấm tự do bàn cải, việc này là mâu thuẩn với quy
chế của đảng, dù vậy hai bản nghị quyết này củng được đồng chấp thuận.
Riêng về bản nghị quyết thứ nhất Radek đả đưa ra một chứng minh có tính
cách báo trước : '' Tôi nhận định là nghị quyết này có thể dùng để
chống lại chúng ta và vì vậy tôi chấp nhận. Trong lúc nguy hiễm Ũy ban
Trung-ương đả quyết định các biện pháp tối nghiêm nghị chống lại các
đồng chí, tôi nhận thấy là rất cần thiết. Dù là Ũy-ban Trung-ương có
lầm lộn vì đó còn ít nguy hiễm hơn việc lừng chừng mà người ta nhận
thấy trong lúc này. Cuộc lựa chọn này đả được thực hiện dưới sự đe dọa
của hoàn cảnh và đả đáp ứng lại các khuynh hướng sâu rộng của các người
Bôn-sê-vít, từng đè nặng với tính cách quyết định về tương lai của đảng
cộng-sản Sô-viết và là kết quả quan trọng đối với phân bộ của tổ
chức Komintern.
Đại hội 10, củng quyết định việc tái tổ chức lại ủy ban kiễm soát với
nhiệm vụ được chỉ định : Canh chừng việc củng cố và quyền lực ở trong
đảng. Từ đó, ủy ban này thành lập và các hồ sơ cá nhơn của các vị lãnh
tụ và các đảng viên để xữ dụng , đến khi cần dùng làm tài liệu căn bản
để truy tố các việc như : thái độ đối với công an chính trị, có cảm
tình hay gia nhập các nhóm chống đối v.v... Sau khi đại hội 10 được bế
mạc, các người có cãm tình hoặc thuộc nhóm khuynh hướng công-nhơn đối
lập đả chịu nhiều việc bắt nạt hay ngược đải. Về sau Alexandre
Chliapnikov đả giải thích : cuộc đãu tranh sẽ không diển ra riêng trong
lãnh vực ý thức hệ mà còn phải dùng các phương tiện khác như việc xa
thải các người ra khỏi địa vị hay thuyên chuyển từ địa hạt này qua địa
hạt khác, cùng lắm là đuổi ra khỏi hãng. Đến tháng 8, cuộc kiễm soát
khởi đầu và kéo dài trong nhiều tháng. Một phần tư các vị lãnh tụ
cộng-sản đả bị khai trừ. Từ việc xử dụng đến việc thanh trừng ''
tchistka '' , từ đây đả trở nên một phần đời sống của đảng. Ông Aino
Kuusienn đả biểu lộ về chu kỳ của phương pháp này : bị cáo được gọi tên
và được mời lên diễn đàn, các thành viên của ủy ban thanh lọc và các
người khác hiện diện đặt các câu hỏi. Một vài người đả minh oan dể dàng
nhưng nhiều người khác đả phải chịu đựng lâu cuộc thử thách gay go này.
Nếu người nào có oán thù riêng với một người nào và đây là cơ hội để
giải quyết dứt khoát về diển tiến của việc này. Nhưng việc xa thải ra
khỏi đảng thuộc quyền quyết định của ủy ban kiễm soát. Nếu bị cáo nhìn
nhận là không phải là thủ phạm về các hành động mà y bị cáo, thủ tục sẽ
được xếp qua một bên và không có cuộc bầu. Nếu trường hợp ngược lại,
không có người nào can thiệp cho người bị cáo, vị chủ-tịch chỉ hỏi có
một câu : Kto protiv, không có một người nào ngỏ ý chống lại, vụ này
được coi như là nhất trí chấp nhận.
Các hậu quả của các quyết định tại đại hội 10, đả được mau ghi nhận :
tháng 2 năm 1922 lãnh tụ Gabriel Miasnikov bị tạm ngưng một năm, và coi
như bị khai trừ ra khỏi đảng vì đả bảo vệ việc tự do báo chí, chống lại
ý kiến của Lénine về việc này. Các người có khuynh hướng thuộc nhóm
công nhơn chống đối đả kháng nghị với tổ chức Komintern ( tuyên ngôn 22
), liền đó Staline, Dzerjinski và Zinoviev đả đòi khai trừ Chliapnikov,
Kollonyai và Medvediev. Nhưng đại hội lần thứ 11 đả từ khước. Càng lúc
càng chịu sự lôi cuốn của quyền lực sô-viết, tổ chức Komintern đả chẳng
bao lâu bị cưởng bách chấp nhận chế độ nội bộ của đảng Bôn-sê-vít. Một
kết quả '' rất bình thường '' ( logique ) và không lấy gì là ngạc
nhiên.
Năm 1923, Dzerjinski đả đòi hỏi một nghị quyết chính thức của bộ chính
trị-Politburo, để bắt buộc các đảng viên phải tố cáo với cơ quan GPU
mọi hành động chống đối. Đề nghị của Dzerjinski là nguồn gốc tạo ra một
loạt khủng hoảng ở trong lòng đảng Bôn-sê-vít : ngày 8 tháng 10,
Trotski đả gởi một văn thư cho ũy ban trung ương, và theo đó ngày 15
tháng 10 '' tuyên ngôn của 46 ''. Cuộc bàn thảo đả diễn ra và quy tụ
chung quanh '' đường lối mới '' của đảng cộng-sản Nga và đưa đến việc
kéo dài qua các bộ phận của Komintern.
Đồng thời vào cuối năm 1923, đời sống của các phân bộ Komintern được
đặt dưới khẩu hiệu '' Bôn-sê-vít '' hóa ; tất cả đồng điều phải tái tổ
chức lại các cơ cấu và lấy làm căn bản là nơi '' các tổ '' ở xí nghiệp
cùng tăng cường sự trung thuận với trung ương tại Moscou. Xảy ra các
việc nói nửa chừng của việc biến đổi đả đưa đến kết quả là làm tăng
thêm nhiều vai trò và quyền lực của các thông điệp của quốc tế cộng-sản
trên đề tài về tiến triển của chính quyền ở Liên-bang Sô-viết.
Ở Pháp, một vị lãnh tụ của đảng cộng-sản Pháp-PCF, là Boris Souvarine
đả chống đối lại '' đường lối mới '' và tố cáo các phương pháp hèn hạ m
Troika ( Kamenev, Zinoviev và Staline ) đả xữ dụng đối với người đối
lập với họ là Trotski : Nhơn dịp đại hội thứ 13, của đảng cộng-sản
Sô-viết thống nhất, Boris Souvarine đả được đòi đến để giải thích. Đó
là ngày 12 tháng 6 năm 1924, một buổi họp đả biến thành một cuộc tố cáo
trên khuôn mẫu một cuộc kiễm thảo bắt buộc. Một ũy ban được triệu tập
đặc biệt để xét về '' vụ Souverine '' và ũy ban này đả tuyên cáo : tạm
thời khai trừ Souvarine. Các phản ứng của ban lãnh đạo của đảng
cộng-sản Pháp-PCF, đả chỉ định rỏ ràng và minh bạch về tình trạng tinh
thần từ nay trở đi, cần phải có trong những hàng ngũ của Đảng Thế-giới
: Ở trong đảng của chúng tôi, đảng cộng-sản Pháp-PCF, đả không hoàn
toàn khai trừ các căn bản xưa, củ của chủ nghĩa xã-hội dân chủ, ảnh
hưởng của các cá nhân còn giử một vai trò lớn.
Nằm trong các biện pháp mà các sự nhỏ nhen còn sót lại của tinh thần
tiểu tư sản với cái '' tôi '' cá nhơn sẽ bị phá bỏ để họp thành một ''
đội quân sắt '' vô danh của các người Bôn-sê-vít Pháp. Đảng cộng-sản
Pháp phải đập tan ở trong lòng đảng và sẽ không nương tay đối với tất
cả các đảng viên từ chối không phục tòng luật của đảng, để đảng được
xứng đáng là thành viên của Quốc-tế cộng-sản và nếu đảng muốn noi gương
các thành quả vẽ vang của đảng cộng-sản Nga. Báo Humanité ngày 19 tháng
7 năm 1924, vị chủ nhiệm viết bài này đả không ngờ là các nhận định của
y đả trở thành quy luật và quy luật này đả được dùng để làm '' kim chỉ
nam '' cho đời sống của đảng trong nhiều thập niên. Một thành viên
nghiệp đoàn tên Pierre Monate đả đút kết việc tiến triển này là : chế
độ '' hạ sĩ quân đội '' ( caporalisation ).
Củng vào mùa hè năm 1924, trong cuộc đại hội 5 của tổ chức Komintern,
vị lãnh tụ Bôn-sê-vít Zinoviev đả đe dọa : '' Bẻ gảy sương '' các người
đối lập, đả làm nổi bật các tính nết về chính trị đang xâm lấn
vào phong trào cộng-sản. Đen tối cho Zinoviev : chính y đả bị Staline
'' bẻ gảy xương '', vì sang đến năm 1925 đả cách chức chủ tịch tổ chức
Komintern của y. Boukharine được chỉ định thay thế nhưng chả bao lâu y
củng nếm mùi chua cay như Zinoviev.
Ngày 11 tháng 7 năm 1928
trước ngày khai mạc Đại-hội 6, của tổ chức Komintern ( từ 17 tháng 7
đến 1 tháng 9 năm 1928 ) lãnh tụ Kamenev bí mật gặp Boukharine và đả
lập một biên bản về cuộc nói chuyện. Là '' nạn nhân của chế độ
công an '' Boukharine đả giải thích là đường giây điện thoại của ông đả
bị '' rình nghe '' và ông bị cơ quan GPU theo dỏi ; hai lần ông đả tỏ
ra rất lo sợ và nói : Nó sẽ thắt cổ chúng ta. Chúng ta không muốn can
thiệp, vì bị coi là ly khai và nó sẽ thắt cổ chúng ta. Nó đây là
Staline.
Người đầu tiên mà Staline toan tính '' thắt cổ'' là Trotski. Cuộc đấu
tranh của Staline chống lại '' Trotski chủ nghĩa '' có một đặc điễm
riêng biệt, đó là sự lan rộng ra. Tất cả bắt đầu từ năm 1927. Nhưng
trước dó vào tháng 10 năm 1927, dấu hiệu báo trước sự '' hung xấu '' để
cảnh cáo, đả được đưa ra trong một cuộc họp của đảng Bôn-sê-vít : hoặc
là khai trừ hay là đập bỏ hợp pháp các sự chống đối, hoặc là giải pháp
các phát súng đại bác trong đường phố giống như các người xã-hội cách
mạng thiên tả, đả xãy ra vào tháng 7 năm 1918 tại Moscou. Đây là một
câu mà Larine đả viết trên báo Pravada. Hành động chống đối thiên tả,
đó danh xưng chính thức, đả bị cô lập và càng ngày càng suy yếu, đả là
nạn nhơn của các cuộc khiêu khích của cơ quan GPU và cơ quan này đả ''
mạo chế '' ra một nhà in lậu do một vị cựu sĩ quan của tướng Bạch-quân
Wrangel, điều khiển. Vị cựu sĩ quan này là một nhơn viên của GPU trá
hình. Các tài liệu của nhóm chống đối đều do nhà in này in ra. Nhơn
cuộc kỹ niệm lần thứ 10 cách mạng tháng 10, nhóm đối lập đả quyết định
biểu tình với các biểu ngữ mang khẩu hiệu của họ. Một cuộc can thiệp
mạnh tay của công an đả ngân chận họ. Đến ngày 14 tháng 11, Trotski và
Zinoviev bị khi trừ ra khỏi đảng Bôn-sê-vít. Giai đoạn kế tiếp, từ
tháng Giêng năm 1928 đả xãy ra việc đưa đi quản thúc ở các vùng xa xôi
những vị lãnh tụ Bôn-sê-vít được nhiều người biết đến. Christian
Rakovski cựu đại sứ sô-viết ở Pháp, đều bị đưa đi về Astrakhan nằm trên
sông Volga, sau đưa đi Barnaoul ở Sibérie. Victor Serge, năm 1933 bị
gởi đi Orenbourg ở Oural hoặc là di ra nước ngoài. Còn về phần Trotski
bị dùng sức mạnh đưa đi Alma Ata ở Turkestan, cách Moscou bốn
ngàn kí-lô-mét. Một năm sau vào năm 1929, ông bị trục xuất qua nước
Turquie, và nhờ vậy thoát khỏi nhà tù, còn các người thân ông đều bị
bắt giam. Càng ngày con số các người bị bắt giam càng gia tăng, gồm có
các người thuộc khuynh hướng Công-nhơn Chống đối củ hay là các người
thuộc Tăp trung ương dân chũ. Họ đều bị bắt và đưa vào các nhà tù riêng
biệt, với tên polit-isolators.
Khởi đầu từ lúc này, các
người cộng-sản ngoại quốc là thành viên của tổ chức Komintern, hay đang
sinh sống ở Liên Bang sô-viết họ đả bị bắt giam hay bị quản thúc cũng
giống như các lãnh tụ Nga ; trường hợp của họ củng được hội nhập như
các người dân Nga, nằm trong biện pháp là tất cả các người cộng-sản
ngoại quốc nếu ở lâu ngày trên lãnh thổ Sô-viết phải bắt buộc gia nhập
vào đảng Bôn-sê-vít và phải phục tùng kỹ luật của đảng. Đó là
trường hợp của Ante Ciliga, thành viên của bộ chính trị của đảng
cộng-sản Nam-tư-PCY, được phái đi Moscou vào năm 1926 như là đại điện
của PCY tại tổ chức Komintern. Ông đả có vài lần gặp gở các người đối
lập tập họp chung quanh Trotski và lần lần tách xa tổ chức Komintern vì
tại nơi đây các cuộc bàn thảo thật sự đả bị bải bỏ và các người lãnh
đạo đả không ngần ngại dùng các lối đe dọa đối với các người nói ngược
lại họ, điều mà Ciliga đả gọi là : '' phương pháp nô lệ, hèn hạ '' của
phong trào cộng-sản quốc tế. Tháng 2 năm 1929 nhơn kỳ tổng đại hội, các
người dân Yougoslave ở Moscou đả chấp thuận một nghị quyết lên án chính
sách của ban lãnh đạo tổ chức Komintern. Một nhóm người bất hợp pháp,
theo các điều lệ của kỹ luật, sau đó đả được các người đối lập tổ chức
chống lại đường lối chính thức đả liên lạc với các người sô-viết. Chẳng
bao lâu, một ũy ban đả điều tra ông Ciliga và khai trừ ông này ra khỏi
tổ chức Komintern trong vòng một năm. Không vì vậy mà Ciliga ngưng
không thi hành các '' hành động bất hợp pháp '' và đến cư ngụ ở thành
phố Léningrad. Ngày 1 tháng 5 năm năm 1930, ông đả đi Moscou để gặp các
thành viên của nhóm người Nga và Yougoslaves vì họ đồng phản đối việc
thi hành kỹ nghệ hóa với đường lối hiện nay đang thực hành và dự định
thành lập một đảng mới. Ngày 21 tháng 5 ông bị bắt giam, cùng với các
bạn của của ông và được đüa vào các polit-isolator ở Verkhné-Ouralks,
chiếu theo điều luật 59. Trong vòng 3 năm liên tiếp, từ nhà tù này qua
nhà tù khác, từ các đon thỉnh nguyện đến việc tuyệt thực, Ciliga không
ngừng đòi hỏi quyền được ra khỏi xứ Nga. Khi được trả tự do, ông đả
toan tính tự tử. Cơ quan GPU đả toan tính ép buộc ông từ bỏ quốc
tịch Italie của ông. Bị đày đi Sibérie, sau cùng ông bị trục xuất ra
khỏi lãnh thổ Nga vào ngày 3 tháng 12 năm 1935, đây là một trường hợp
đặc biệt hiếm có.
Nhờ có các lời tố cáo của Ciliga, người ta đả được biết rỏ về các
trại polit-isolators : '' Các đồng chí trao cho chúng tôi các tờ báo
phát hành trong nhà tù. Biết bao nhiêu là tư tưởng và mỗi bài báo đều
được tự do viết. Biết bao nhiêu say mê và tình ngay thật trong việc
trình bày các vấn đề không những trừu tượng và lý thuyết mà luôn cả
những gì liên quan đến các thời sự còn nóng bỏng. Nhưng sự tự do của
chúng tôi không chỉ giới hạn ở điễm này. Trong lúc được đi thả bộ ở
trong sân của nhà tù và lúc mà nhiều phòng được ra ngoài cùng lúc ; các
người bị giam thường hay có thói quen tụ họp ở một góc sân để có một
buổi họp đàng hoàng có chủ tịch, thơ ký và các người diển giả, thay
phiên nhau trình bày các ý kiến. Về đời sống vật chất như sau đây : Các
thức ăn theo thực đon thường lệ của người '' moujik '' thường dân hay
nông dân nghèo : buổi sáng bánh mì và cháo , buổi chiều củng vậy, suốt
cả năm. Ngoài ra bửa ăn trưa được ăn súp, cá thuộc loại tồi, các thức
ăn đóng hộp và thịt gần đến tình trạng hư thối. Củng món súp đó nhưng
không có cá và thịt được cho ăn vào buổi cơm tối. Mỗi ngày được 700 gờ
ram bánh mì, mỗi tháng được một kí lô đường. Ngoài ra người ta phát cho
chúng tôi các khẩu phần thuốc điếu, thuốc lá hay là sa-von. Các thức ăn
đều đều này, đả không đầy đủ cho sức khỏe . Chúng tôi phải tranh đấu
kịch liệt để người ta không giảm bớt số lượng cho các phần ăn ít ỏi này
: Phải nói là biết bao nhiêu cuộc đấu tranh gian khổ để chúng tôi đạt
được một chút ít cải thiện của cábc thức ăn hàng ngày. Nhưng dù sao chế
độ mà chế độ mà chúng tôi được hưởng phải coi là '' ưu đải '' nếu
so-sánh với chế độ của các nhà tù cho các tội thường phạm và các triệu
người bị giam cầm trong các trại ở miền Bắc.
Nhưng các điều '' ưu đải '' này nó chỉ là tương đối. Ở Verkhné-Ouralsk
các người tị nạn đả ba lần tuyệt thực vào tháng 4 và mùa hè năm 1931 và
tháng 12 năm 1933 để bảo vệ các quyền lợi của họ và để chống lại việc
'' tái thi hành '' các án giam. Như bị án ở tù 3 năm, khi mãn hạn thì
bị coi là như chưa thọ án, lại ở thêm 3 năm. Khởi từ năm 1934, gần như
ở mọi nơi chế độ các tù chính trị đều bị bải bỏ trừ Verkhné-Ouraksk thì
chế độ này còn duy trì cho đến năm 1937. Cách thức giam giữ mỗi ngày
trở nên tồi tệ hơn như : '' Các phạm nhơn đả chết vì bị đánh đập, các
phạm nhơn khác bị xử bắn và có nhiều người bị '' biệt giam '' vào hầm
kín như trường hợp của Vladimir Smirnov đả xảy ra vào năm 1933
tạiSouzdal.
Việc tội ác hóa các phạm nhơn, loại thật hay loại phỏng định, nằm ở
trong lòng đảng cộng-sản và chẳng bao lâuđả lan tràn đến các lãnh tụ
cao cấp cộng-sản. Người lãnh đạo đảng cộng-sản Espagne, José Bullejos
và nhiều đồng chí của ông đả được triệu tập đến Moscou vào mùa Thu
1932, và đả bị chỉ trích, cùng phê bình về đường lối, chính sách của
đảng ông. Vì đả từ chối các '' đường lối bắt buộc ( diktat ) của tổ
chức Komintern, họ dẳ bị khai trừ toàn khối vào ngày 1 tháng 11 năm
1932, và từ đó bị quản thúc ở khách sạn LUX, nơi trú ngụ của các vị
lãnh tụ. Lãnh tụ người Pháp, ông Jacques Duclos cựu đại diện của tổ
chức Komintern, ở Espagne đả đến thông báo cho họ quyết định khai trừ
họ, và cho họ biết là : Tất cả các mưu toan nổi loạn sẽ bị trừng phạt
theo các hình luật sô-viết. Bullejos và các đồng chí của ông đả rời
khỏi nước Nga sau hai tháng thương lượng gay go để lấy lại được giấy
thông hành của họ.
Năm 1932, củng kết thúc một vụ ' không thể tưởng tượng '' được, đả liên
quan đến đảng cộng-sản Pháp-PCF. Đầu năm 1931, tổ chức Komintern đả gởi
một đại diện đến đảng PCF và nhiều huấn luyện viên, để tái nắm vững
đảng này. Tháng 7, người chỉ huy thiệt thọ của tổ chức Komintern là
Dimitri Manouilski đả bí mật đến Paris. Ông này đả tiết lộ với bộ chính
trị của đảng cộng sản Pháp là ở trong lòng đảng có một nhóm người đang
hoạt động để phân chia đảng này. Trên thực tế đây chỉ là một sự dàn
cảnh, để gây ra một cuộc khũng hoảng trong đảng này và bộ chính trị khi
giải quyết được khũng hoảng này sẽ yếu đi ; sự tự trị của đảng chỉ còn
lại chút ít và sẽ trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào Moscou. Trong các đám
người bị chỉ định là có ý làm phân chia hàng ngủ là tên Pierre Celor,
một vị lãnh tụ chính từ năm 1928 đả bị triệu tập đi Moscou dưới chiêu
đề là sẽ được bổ nhiệm làm đại diện cho đảng cộng-sản Pháp ở tổ chức
Komintern. Nhưng vừa đặt chân đến Moscou, ông đả bị đối đải như là một
tên '' khiêu khích ''( provocateur ). Bị đặt ra ngoài lề đảng, không có
lương tháng, Célor chỉ sống trong túbng thiếu và đói suốt mùa đông nhờ
vào thẻ tiếp tế của vợ ông, bà này làm việc ở tổ chức Komintern ở
Moscou. Ngày 8 tháng 3 năm 1935, ông được đòi đến dự một cuộc họp trong
số cử tọa có mặt các nhơn viên NKVD và trong một cuộc hỏi cung dài 12
giờ đồng hồ, họ đả cố gắng bắt ông '' thú nhận '' là một người của công
an Pháp đả xâm nhập vào hàng ngũ của đảng cộng-sản Pháp. Celor không
thúb nhận gì cả và sau nhiều cuộc áp lực và quấy nhiểu, ông đả trở về
nước Pháp ngày 8 tháng 10 năm 1932, và liền sau đó bị tố cáo là Flic,
tiếng lóng của Pháp chỉ vào các người cảnh sát công an.
Bắt đầu từ năm 1932, theo
khuôn mẫu của đảng Bô-sê-vít, phần lớn các đảng cộng sản của các nước
khác đả tổ chức các phân đội, các cán bộ trực thuộc thẳng với phân đội
cán bộ trung ương của tổ chức Komintern ở Moscou ; các phân đội này có
nhiệm vụ thành lập các hồ sơ đầy đủ của các người lãnh tụ đảng cộng-sản
của nước mình gồm có các câu hỏi về thân thế và các lời tự khai của các
lãnh tụ cùng với tất cả các chi tiết. Riêng về đảng cộng-sản Pháp đả có
trên 5000 hồ sơ được chuyển về Moscou trước khi xãy ra chiến tranh thế
giới lần thứ hai.
Các câu hỏi về thân thế
gồm có trên 70 câu hỏi, được chia ra dưới 5 tiết mục : 1/- Nguồn gốc và
thân thế trong xã-hội ; 2/- Nhiệm vụ ở trong đảng ; 3/- Học vấn và
trình độ trí thức ; 4/- Gia nhập vào đời sống xã-hội ; 5/- Tư pháp
ký-lịch và nếu có lịch trình bị đàn áp. Tất cả các tài liệu này
dùng trong việc lựa chọn các người lãnh tụ, cho tất cả các đảng
cộng-sản ngoại quốc, được tập trung tại tổ chức Komintern ở Moscou, và
tất cả các hồ sơ tài liệu này đều do các lãnh tụ Bôn-sê-vít : Anton
Krajevski, Tchernomordik hay Gevork Alikhanov lần lượt là những người
chỉ huy phân bộ nay quản lý và phân bộ này lại liên lạc với phân bộ các
nước ngoài của cơ quan NKVD đả được chỉ định làm tổng thư ký của Ũy ban
Hành-pháp tổ chức Komintern với nhiệm vụ kiễm soát các cán bộ. Dưới bí
danh là Mikhail Moskvine, y đả thâu thập các tin tức và các lời tố cáo,
quyết định các việc thất sũng ( disgrace ) và là giai đoạn đầu tiên đưa
đến việc thủ tiêu trong tương lai. Nhiệm vụ của các cán bộ này là thành
lập các '' danh sách đen '' các người bị coi là kẻ thù của chủ nghĩa
cộng-sản và là kẽ thù của Liên-bang Sô-viết.
Ngay từ lúc mới thành lập và liền sau đó, các phân bộ của tổ chức
Komintern và các phân bộ ngoại quốc trực thuộc phân bộ trung-ương, đả
được coi là các '' lò tuyển mộ ''các nhơn viên tình báo cung cấp các
tin tức cho Liên-bang Sô-viết. Trong vài trường hợp, các người lãnh tụ
tình nguyện làm các việc bất hợp pháp này, lẽ dỉ nhiên là làm ngầm (
clandestin ) họ không biết là thực tế họ đả làm việc cho các cơ quan
tình báo của Hồng-quân là GRU hay là phòng 4, cơ quan chuyên về thâu
thập các tin tức ở nước ngoài của Tchka. GPU ( Inostrany Otdel, Ino ),
NKVD vân vân. Các cơ quan này liên hệ chằng chịt với nhau, và họ có một
sự ganh đua rất mạnh, đưa đến việc cơ quan này tìm cách tuyển mộ nhơn
viên của cơ quan khác. Trong cuốn hồi ký, Elsa Poretski đả đưa ra nhiều
việc do sự cạnh tranh này gây ra :
Các danh sách đen của đảng
cộng-sản Pháp-PCF
Khởi đầu từ năm 1932, đảng cộng-sản Pháp đả cho thiết lập các nguồn tin
mà họ thâu thập được, vào một danh sách các cá nhơn, các người bị nghi
ngờ hay có thể trở nên nguy hiểm cho họ. Vì dưới mắt họ các hoạt động
của các cá nhơn này đã ngược lại với chủ trương của họ. Các danh sách
này được thành lập song song với việc tổ chức Komintern, nắm lấy các
cán bộ của bộ phận mới được thành lập, theo lịnh của tổ chức trung-ương
Komintern. Việt thiết lập danh sách các người lãnh tụ đả đưa ra mặt
trái của việc này : danh sách các lãnh tụ đả '' thất bại '' dưới hình
thức này hay hình thức khác. Từ năm 1932 đến tháng 6 năm 1939, đả cho
ra công bố bản danh sách '' Đen '' dưới các tựa đề khác nhau nhưng
tương tự : Danh sách đen các tên khiêu khích ( provocateur ) các tên
phản bội, các tên điềm chỉ đả bị đuổi ra khỏi các tổ chức cách mạng ở
Pháp, hay là danh sách đen các tên khiêu khích, ăn cắp, lường gạt,
trốt-kít, phản bội đả bị đuổi ra khỏi hàng ngũ tổ chức công nhơn Pháp.
Để chứng minh cho các danh sách đen này, tính đến khi xảy ra đệ nhị thế
chiến, đả có trên 1000 tên người được công bố. Đảng cộng-sản Pháp dùng
một lý lẻ đơn giản : Cuộc đấu tranh giai cấp tư sản trưởng giả chống
lại giai cấp các công-nhơn và các tổ chức cách mạng, xãy ra ở trong
nước ta, đả trở nên mỗi ngày mỗi gay cấn hơn.
Các người lãnh tụ phải cung cấp cách tả tướng mạo : chiều cao, màu tóc
và lông mày, vừng trán, màu của mắt, mủi, miệng, cầm, hình khuôn mặt,
màu da, các dấu hiệu riêng. Danh sách số 10 năm 1938. Phải cho biết tất
cả các chi tiết để hầu làm dể dải việc tìm kiếm những người bị tố cáo,
và các nơi họ cư ngụ. Mỗi một người lãnh tụ là một người phụ lực công
an họ chơi trò các nhơn viên Tchéka nhỏ.
Vài người bị tình nghi lại đúng là các tên xảo trá có hạng, còn những
người khác là những người chống đối đường lối của đảng, hoặc là công
khai, hoặc là ngầm. Trong những thập niên 1930 họ nhắm vào các lãnh tụ
đả đi theo Jacques Doriot và vùng hoạt động củng là vùng Saint Denis ;
rồi đến các người thuộc nhóm trốt-kít. Riêng đối với các người cộng-sản
Pháp, họ đả dùng lại các lý lẽ của người đàn anh sô-viết : Các người
trốt-kít đả trở thành một đám người điên khùng và là những người phá
hoại không nguyên tắc, là những nhân viên để làm xao lãng, và là những
sát nhơn theo lịnh của các tổ chức gián điệp ngoại quốc ( mục lục 1 của
các bản danh sách đen từ số 1 đến số 8 ).
Đệ nhị thế chiến xãy ra, và lịnh cấm của chính quyền được ban ra do
đảng cộng-sản Pháp, vì đảng này đả ủng hộ cuộc liên minh Đức-quốc-xã
với Nga sô-viết. Rồi đến cuộc chiếm đóng của quân đội Đức trên nước
Pháp đả đưa đến việc tăng cường các hành động cảnh sát. Những người
lãnh tụ cộng-sản Pháp, vì lòng ái quốc không ũng hộ liên minh
Staline-Hitler đýu bị tố cáo, luôn cả các người tham gia vào cuộc kháng
chiến chống Đức như : Adrien Langumier, tham gia kháng chiến nhưng ông
này núp dưới bình phong là chủ nhiệm của nguyệt san Thời-Mới-Le temps
nouveaux. Cộng-sản không tố cáo nhà Bác-học Fréderic Joliot Curie về
bài báo ông này viết ngày 15 tháng 2 năm 1941 có tính cách liên lụy
ông. Ông René Nicod, cựu dân biểu của vùng Oyonnax, tuy ông cư xử không
có điều gì đáng phàn nàn đbối với các đồng chí của ông củng bị tố cáo.
Công an của đảng củng tìm đủ mọi cách để thủ tiêu Jules Fourrier, lãnh
tụ và là dân biểu, ông đả là người bỏ thăm tín nhiệm trao toàn quyền
hành động cho Thống-chế Pétain và cuối năm 1940, đả tham gia vào tổ
chức kháng chiến chống lại Đức ; ông bị quân Đức đưa đi đày ở trại
Buchenwald sau đưa qua trại Mauthausen.
Ngoài những người này, có
những người vào năm 1941, đả tham gia vào việc thành lập đảng các công
nhơn và các nông dân Pháp tập hợp chung quanh cựu Tổng thư-ký đảng
cộng-sản Pháp là Marcel Gitton, bị bắn chết vào tháng 9 năm 1941, do
các lãnh tụ cộng-sản ra tay. Đảng cộng-sản tự ban ra quyền để
tuyên án : '' phản bội đảng và nước Pháp '', và khi họ hạ sát một nạn
nhơn, họ gài trên thi thể nạn nhơn một miếng giấy có ghi : '' Đả xứng
đáng đền tội ''. Củng có xãy ra trường hợp người lãnh tụ đả bị nghi ngờ
phản bội, bị ám sát chết và sau chiến tranh đả được phục hồi danh dự,
đó là trường hợp của George Déziré.
Trong việc truy lùng các người Do-thái, đảng cộng-sản đả dùng nhiều
hình thức kỳ lạ để tố cáo các người Do-thái : '' C.. Renée tự Tania, tự
Thérèse ở quận 14 là người Do-thái gốc bessarabie. Hay là B.. Do-thái
gốc ngoại quốc dèm pha đảng cộng-sản và Liên-bang Sô-viết. Cơ quan MOI
phụ trách các nhơn công di dân một tổ chức tập họp các người lãnh tụ
cộng-sản người ngoại quốc đả dùng một ngôn ngử đặc biệt : R.. người
Do-thái đả hoạt động với một nhóm người Do-thái thù địch, và họ củng
không hề bỏ sự thù ghét các người lãnh tụ trốt-kít : D.. Yvonne ở số 1,
công trường Gal. Beurêt-Paris 7è là Trốt-kít có liên lạc với tổ chức
Poum, dèm pha Liên-bang Sô-viết. Chuyện có thể xãy ra là khi cơ quan
công an Pháp thời Vichy và cơ quan Gestapo của Đức-quốc-xã khi truy bắt
các người bị tố cáo, cũng có thể tìm thấy các danh sách các đồng chí
của ngưới bị bắt. Vậy số phận của các người bị tố cáo sẽ ra sao ?.
Năm 1945, đảng cộng-sản Pháp cho công bố một loạt các danh sách đen, để
đưa ra '' quản thúc của quốc gia ''theo ý nghĩa của nó, các người đối
thủ chính trị mà đả có vài người đả thoát được các mưu toan ám sát.
Định chế hóa việc lập ra các danh sách đen, lẽ dỉ nhiên đưa trở lại
việc tạo ra danh sách các người bị cáo hiện hữu của cơ quan an-ninh
sô-viết ( Tcheka-GPU-NKVD ) Đây là một hành động chung cho toàn thể các
người cộng-sản, được phát minh vào thời lúc vừa xãy ra cuộc nội chiến ở
Nga. Ở Ba-lan vào lúc chiến tranh vừa chấm dứt, những loại danh sách
đen đả có 48 hạng người cần phải canh chừng.
Chẳng bao lâu sự hổn độn
của các cơ quan đả được vượt qua với một yếu tố quyết định, tổ chức
Komintern củng như các cơ quan đặc biệt đều phải chịu dưới quyền tối
cao của ban lãnh đạo đảng cộng-sản sô-viết thống nhất và phải phúc
trình các hành động trước mặt và chỉ lo cho Staline thôi. Năm
1932, Martemiam Rioutine người đả lãnh đạo và thi hành triệt để các
cuộc đàn áp các người chống đối, đến lượt ông trở nên chống đối
Staline. Ông đả thảo ra một bản định hướng và ông đả viết : Staline,
ngày hôm nay đả có ở trong vị trí tổ chức Komintern ngôi vị của một vị
giáo hoàng không thể sai lầm, Staline đả nắm trong tay, bằng một sự lệ
thuốc về vật chất trực tiếp hay bán trực tiếp ; tất cả các vị lãnh đạo
của tổ chức Komintern ở Moscou hay ở tại chổ, và đó là lý lẽ quyết định
để xác nhận sự vô địch trong lãnh vực lý thuyết. Vào các năm cuối thập
niên 1930, tổ chức Komintern đả lệ thuộc tài chính vào nhà nước
Liên-sô, và đả mất hết phương tiện để có thể độc lập. Nhưng sự lệ thuộc
về vật chất lại làm nặng thêm về sự lệ thuộc chính trị và thêm vào đó
là sự lệ thuộc về công an.
Sức ép càng ngày càng mạnh của các cơ quan công an, vào các người lãnh
tụ của tổ chức Komintern, đả đưa đến kết quả là việc gây ra sự sợ hải
và sự nghi kị lẩn nhau. Đồng thời việc tố cáo đả làm băng hoại các việc
giao tế, sự nghi ngờ xâm nhập vào óc mọi người. Việc tố cáo nó có hai
loại : các việc tố cáo do tự ý chí và sự tố cáo do các cuộc tra tấn thể
xác, được tạo ra bằng các sự hành hạ tâm thần. Nhiều khi việc tố cáo nó
củng do sự sợ hải gây ra. Trường hợp của lãnh tụ cộng sản Pháp André
Marty, là điển hình của cơn cuồng say nghi ngờ, ích kỷ, kêu ngạo quá
đáng, dể giận và cùng với lòng nhiệt thành không bị kềm chế, để tự tỏ
ra là người cộng sản có được sự cẩn trọng. Trong một bức thư '' tuyệt
đối '' riêng mật gởi cho Tổng-thư-ký của tổ chức Komintern, đề ngày 23
thánh 6 năm 1937, ông đả viết một bản cáo trạng dài để tố cáo người đại
diện cho Quốc-tế Cộng-sản ở Pháp là Eugen Fried và ông tỏ ra rất là
ngạc nhiên vì sao cảnh sát Pháp chưa bắt giam người này và điều này đối
với ông là điều đáng nghi ngờ.
Củng nằm trong loại này, trích dẫn của nhiều bức thư gởi cho đồng chí
L.P. Béria, ũy viên kiêm nhiệm các thường vụ Bộ-Nội-Vụ của Liên-bang
Sô-viết do nử đồng chí người Bulgare Stella Blagoieva, một nhơn viên
loại hạ cấp phục vụ tại phân bộ các cán bộ của ũy ban hành pháp của tổ
chức Komintern : Cơ-quan hành pháp có được nhiều báo cáo tin tức do các
đồng chí, lãnh tụ các đảng anh em gởi tới mà chúng tôi nhận xét rất cần
thông báo cho đồng chí để đồng chí phối kiễm, và thi hành các biện pháp
cần thiết. Một người thư-ký của Ủy-ban trung-ương đảng cộng-sản
Hongrie, tên Karakach, trong các cuộc đàm thoại đả tỏ ra thiếu tận tâm
vào đảng của Lénine và Staline. Các đồng chí đả đặt ra câu hỏi nghiêm
trọng : tại sao vào năm 1932, tòa án Hongrie chỉ kết án đồng chí có 3
năm tù giam, trong lúc ấy ở Hongrie trong thời gian mà chế độ vô-sản
chuyên chế ; Karakach đả hành quyết các người bị tòa án cách mạng kết
án tử hình. Các bài diển văn của các đồng chí người Đức, Áo, Lettonie,
Balan và các nước khác đả nói lên các giới di cư về chính trị đả bị làm
ô-uế. Cần phải quyết tâm loại bỏ hạng người này.
Arkadi Vaksberg đả xác định là trong các văn khố lưu trử của tổ chức
Komintern, đả có hàng chục và có thể có đến hàng trăm bức thơ tố cáo,
một hiện tượng đả chứng tỏ sự suy thoái về tinh thần và đạo đùc của các
thành viên và các cán bộ của đảng cộng-sản sô-viết. Các tinh thần suy
thoái đả được nổi bật khi diễn ra các cuộc xữ án lớn, xữ các vị lãnh tụ
thuộc '' giới lão thành '' Bôn-sê-vít, những người đả đóng góp công
sức, trí tuệ vào việc xây dựng một chính quyền dựa vào sự nói dối tuyệt
đối.
Các vụ xữ án lớn ở
Moscou
Các hiện tượng về các cuộc khũng bố cùng các vụ xữ án đả nêu lên nhiều
câu hỏi khác nhau. Và Boris Souvarine đả ghi bút về các điều này :
Nếu ta nói là các vụ xử án ở Moscou là một hiện tượng riêng biệt của
người Nga, thì đây là một nhận định quá đáng. Dưới sự ghi dấu có tính
cách quốc gia, người ta có thể nhận định dưới khía cạnh tổng quát nhiều
điều khác nhau.
'' Trước tiên cần phải từ bỏ định khiến là các điều gì đả đến cho người
Nga sẽ không có thể sảy ra cho người Pháp. Nói về việc các lời thú tội
mà các người Nga đả bị cưỡng bách phải cung khai, nó cũng sẽ đến vợi
người Pháp mà ta tưởng là các người sẽ lưỡng lự mà không chịu làm dù
dưới sự tra tấn. Và đối với các đảng viên cuồng tín của chủ nghĩa Bôn
sê vít, việc tự nhiên là nó củng sẽ xảy ra ở ngoài nước Nga hơn là ở
trong nội địa nước Nga.
Vào những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng mười, việc giải quyết mau
lẹ các việc khó khăn, người ta có thể dựa vào điều gọi là '' linh hồn
người slave ''. Nhưng sau đó, với các việc xảy ra ở nước Đức và nước
Ytalie ; các việc tái diển nó cũng đặc biệt giống như các việc đả xãy
ra ở nước Nga. Với các ''Thú tính'' của con người , khi các cơn
này đả nổi lên thì dù là các người La-tinh, Đức hay Slave, nó cũng sẽ
sãy ra các hiệu quả tương tự dù dưới các hình thức và đîa bàn khác nhau
.
Ngoài ra, người ta củng nhận thấy ở Pháp và ở các nơi khác có nhiều
loại người khi biết được các việc tàn ác dữ tợn do Staline gây ra, đả
làm họ cảm thấy dễ chịu hơn. Bộ biên tập của nhựt báo Humanité đả không
chịu thua nhựt báo Pravda đả đòng tỏ ra quy lụy và hèn hạ, mà không thể
nói là không biết đả bị nằm vào gọng kềm ( tenaille ) của chuyên chế
toàn diện. Ông Kamarou, nghị viên của viện hàn lâm Nga, đứng ở công
trường đỏ của Moscou đả lên tiếng đòi hỏi là cần phải có thêm nhiều ''
thủ cấp '' nửa, ông này đả tự làm ''ố danh'' (déshonorer) nhưng ông đả
không từ chối làm việc này,vì ông đả tự biết rằng nếu không làm tức là
phải chọn con đường ''tự tử'' (suiside). Văy ta nghỉ sao với các nhơn
vật như Romain Rolland, Langevin hay Malraux, những người đả từng ngợi
khen chế độ mà người ta gọi tên Sô-viết, nền ''văn hóa'' của nó cùng
với nền ''công lý'' nếu họ không bị đe dọa bởi ''cái đói'' hay ''cái
tra tấn''.
Báo Figaro Littéraire (văn chương) ngày 1 tháng 7 năm 1937
Cuộc đại khủng bố diẻn ra
trong khuôn viên điện Kremlin
Ngày 1 tháng 12 năm 1934, đả xãy ra vụ ám sát lãnh tụ Kirov đả cho
Staline có thể '' có cớ '' để cho thi hành ở tổ chức Komintern cùng với
đảng cộng sản Nga, một cuộc đàn ap và khủng bố nghiêm trọng. Lîch sử
của đảng cộng sản Nga thống nhất và cùng với lịch sử của Komintern đả
đòng bước vào một giai đoạn mới. Các cuộc khủng bố đả từng nhắm vào xã
hội dân chính, nay được hướng vào các người nắm quyền tuyệt đối ( sans
partage ) của đảng cộng sản Sô viết thống nhất và người tổng thư ký quá
nhiều quyền lực.
Các người nạn nhơn đầu tiên là các người đối lập đang bị giam cầm. Khởi
đàu vào cuối năm 1935, các phạm nhơn đả mản án tù đều bị bắt giam ttrở
lại.Nhiều ngàn người bị kết tội là ''trốt kít'' đả bị bắt giam và bị
tập trung ở Vorkuta. Có khoảng 500 người lao động ở trong các hầm mỏ ,
một ngàn người bị giam ở trại Oukhto-Petchora ;và tất cả có hơn nhiều
ngàn người bị giam cầm trong vùng Petchora. Ngày 26 tháng 10 năm 1936,
một ngàn người trong số này bị bắt đi đình công và tuyệt thực, cuộc
tuyệt thực này kéo dài trong 132 ngày. Họ đòi hỏi được giam riêng biệt,
không giam chung với các phạm nhơn thường tội hay giam chung với các
người phạm tội ác, và được sống chung với gia đình của họ. Sau bốn tuần
lễ, phạm nhơn đầu tiên qua đời. Ròi các phạm nhơn khác lần lượt chết vì
cuộc đình công này được kéo dài cho đến khi ban quản đóc chấp thuận các
yêu sách của họ. Vào mùa Thu năm sau, một ngàn hai trăm phạm nhơn (
trong số này có hơn một nữa là các người trốt kít ) đả được tập họp ở
gần một lò gạch củ. Cuối tháng 3, ban quản đóc đüa ra danh sách 25 phạm
nhơn, mỗi người được lãnh 1 kílô bánh mì và được lịnh ra đi. Một lát
sau, người ta nghe tiếng nổ của một loạt súng. Giả thuyết bi quan đả
được đưa ra và người ta thấy đội lính giải các phạm nhơn trở về nơi tập
họp. Sau hai ngày, lại một cuộc kêu tên và tấn tuồng lại diển lại ; và
liên tiếp như vậy cho đến cuối tháng 5. Các người lính đả tưới xăng (
essence ) vào các thi thể để đót cháy hầu không còn dấu vết nữa. Cơ
quan NKVD cho phát thanh trên đài vô tuyến điện tên các người bị xữ bắn
vì đả phạm vào các tội '' hoạt động phản cách mạng, phá hoại, ăn cướp,
từ chối lao động và toan vượt ngục ''.Các người đàn bà củng không được
chừa ra : Vợ của một người lãnh tụ đả bị hành quyết cũng phải chịu
chung một số phận và luôn các trẻ em trên 12 tuổi củng chịu chung cảnh
ngộ.
Khoảng 200 phạm nhơn trốt kít ở trại Magadan được coi là '' thủ đô''
của vùng Kolyma củng đả tuyệt thực để đòi được hưỡng quy chế chính trị.
Trong bản tuyên ngôn của họ, họ đả tố cáo các tên ''đao phủ thũ - ăn
cướp'' ''và chế độ phát xít'' của Staline còn tệ hại hơn chế độ
(fascisme) cùa Hitler. Ngày 11 tháng 10 năm1937, họ bị tuyên án tử hình
và 74 người trong số này đả bị xữ bắn vào các ngày 26-27 tháng 10 vàb
ngày 4 tháng 11. Các vụ hành quyết tương tợ được tiếp diễn trong năm
1937 và 1938.
Ở trong các nước mà có sự hiện diện của những người cộng sản
chính thống họ đýu nhận được mệnh lệnh bài trừ ảnh hưỡng của các thiểu
số lãnh tụ đả kết hợp chung quanh Trotski. Một hành động mới đả diển ra
từ khi khởi đàu cuộc chiến ở Espagne, đó là một phương cách thũ
xảo để ghép lại (assuer) chủ nghỉa phát xít với chủ nghỉa quốc xã
(nazisme) trong lúc đó thì Staline sữa soạn việc ''xích gần lại'' với
Hitler.
Chẳng bao lâu, cuộc Đại Khủng Bố do Staline chủ trương đả khởi phát
nhắm vào tổ chức trung ương cũa Kominter. Năm 1965, ông Branko Lazitch
đã toan tính nghiên cứu các công việc đầu tiên là tìm hiểu về
việc thủ tiêu các thành viên của tổ chức này với tựa đề là :
'' Sự tuẩn giáo (martirologie) khổ nhục cũa tổ chức Komintern.'' Boris
Souvarineđả bình phẫm và kết luận về bài nghiêm cứu của Branko Lazitch
cùng với bài viết tiếp theo của ông này, một nhận định về các người hợp
tác loại tầm thường với tổ chức Komintern , chính là những nạn nhơn vô
danh của cuộc đại thanh trừng. Việc ghi nhớ vào ký ức không phải là một
việc làm vô ích, khi người ta đề cập tới chương đặc biệt lịch sữ của
chũ nghỉa cộng sản sô-viết : Phần lớn các người đả biến mất
(disparaître) trong cuộc tàn sát của tổ chức Komintern vào lần này chỉ
là một phần nhỏ nhứt (partie infime) của số tàn sát không thể đếm được
đả sãy ra cho hàng triệu người lao động và nông dân siêng năng bị tàn
sát một cách vô lý bởi một chính sách vô nghĩa (rime) bạo tàn quái đản
mang chiêu bài vô sản.
Các cán bộ của tổ chức trung ưöng cùng các người ở các phân bộ của các
nước đýu bị guồng máy đàn áp nó hút vào và nghiền nát cùng một lượt với
các người thường dân. Với cuộc đại thanh trừng của hai năm 1937-1938,
không chỉ có những người đối lập là các nạn nhơn của các cơ quan đàn áp
mà có luôn cán bộ của tổ chức Komintern và các tổ chức phụ thuộc :
Thanh niên quốc tế cộng sản KIM, Công đoàn (syndicale) ĐỎ quốc tế
Profintern, Cùu tế (secours) ĐỎ MOPR, Trưởng chủ thuyết Lénine quốc tế,
Đại học các sắc tộc thiểu số ở phương Tây KUMNZ v.v .. Người con gái
của người bạn già và đồng chí của Lénine tên Wanda-Pampuch Bronska, đã
thuật lại, dưới một bí danh (prendonyme), vào năm 1936 toàn thể đại học
KUMNZ đả bị giải tán, tất cả các nhơn viên đều bị bắt và gần như toàn
thễ các học viên cũng vậy.
Sử gia Milhail Panteleico, khi tra xét về các căn bản từ mọi phân bộ và
tất cả những bộ phận của tổ chức Komintern đả truy ra con số 133 nạn
nhơn ở trong số 492 cán bộ (tỷ lệ 27%). Vào ngày 1 tháng giêng
đến ngày 17 tháng 9 năm 1937, ũy ban hành pháp gồm có Mikhail Moskvine
( còn có tên khác là Meir Trilissier) Wilhelm Florin và Jan Anvelt rồi
đến tháng 5 năm 1937 ũy ban đặc biệt gồm có Georgi Dimitrov, M.
Moskvine và Dimitri Manouilski đả ra lệnh xa thải 256 người. Thông
thường thì cán bộ nào đả bị xa thải, tùy theo thời gian sớm muộn gì
cũng sẻ bi bắt giam cầm : Elena Walter, phục vụ tại văn phòng của
Dimitrov bị xa thải vào ngày 16 tháng 10 năm 1938, sau hai ngày liền bị
bắt giam. Jan Borowski (Ludwik Komorowski) cán bộ thuộc ũy ban hành
pháp Komintern bị xa thảy vào ngày 17 tháng 7 thì bị bắt giam vào ngày
7 tháng 10. Trong năm 1937 đả có 88 cán bộ của tổ chức Komintern đả bị
bắt giam và năm 1938 lại có thêm 18 cán bộ khác cũng chịu chung số
phận. Nhiều người khác đả bị bắt tại nơi họ đang làm việc như Anton
Krajewski (còn có tên khác là Wladyslaw Stein) đang phụ trách về báo
chí và tuyên truyền, bị nhốt vào khám ngày 26 tháng 5 năm 1937. Nhiều
người cán bộ khác, sau khi đi công tác ở các nước ngoài liền bị bắt khi
trở về quốc nội.
Tất cả các nhiệm sỡ, từ văn phòng thư ký đến các đại diện những đảng
cộng sản của các nước ngoài đýu bị dính líu đến các việc bắt giam.
Trong hai năm 1937-1938, 41 người cán bộ thuộc văn phòng thư ký của ủy
ban hành pháp đả bị bắt giam. Trong lòng của tổ chức liên lạc OMS, đến
năm 1936 đả có 34 người bị bắt giam. Chính bản thân Moskvine củng bị bộ
máy đàn áp ''đớp'' (happer) vào ngày 23 tháng 11 năm 1938 và bị kết án
tử hình vào ngày 1 tháng 2 năm 1940 và liền bị xữ bắn. Jan Anvelt đả
chết vì bị tra tấn và cán bộ A. Munch-Petersen gốc người Đan mạch đả
chết ở trong nhà thương của một khám đường vì bịnh lao phổi. Năm chục
người cán bộ trong số này có 9 phụ nữ đã bị xữ bắn ; Cô Lydia DuÙbi,
người gốc Thụy sĩ và là người chịu trách nhiệm một hệ thống ''bí mật''
ở Paris của tổ chức Komintern, đả bị triệu hồi về Moscou vào đầu tháng
8 năm 1937. Vụa về đến nơi cô liền bị bắt cùng với hai người hợp tác là
Brichman và Wolf, bị buộc tội là đã tham dự vào tổ chức '' trốt kít
chống Sô viết'' và làm gián điệp cho nước Đức, nước Pháp, nước Nhật bản
và luôn cả .. .. nước Thụy sĩ. Cô đã bị tập đoàn quân sự của tòa án tối
cao Liên bang sô-viết tuyên án tữ hình ngày 3 tháng 11 và vài ngày hôm
sau thì bị hành quyết ; việc có quốc tịch của nước Thụy sĩ không thể
che chở cho cô và gia đình của cô thì được thông báo một cách tàn nhẫn
về án này mà không có một lời giải thích nào cả. Stanislaw Skoulski
(còn có tên làMartens) bị bắt giam vào tháng tám và bị xữ bắn vào ngày
21 tháng 9 năm 1937. Vợ của ông là L. Jankovski người gốc Ba lan bị kết
án tám năm tù giam vì có tội là thành viên trong một gia đình của một
tên phản tổ quốc. Nguyên tắc và trách nhiệm gia đình đả được áp dụng
cho người thường dân cũng đả lan tràn qua các thành viên của bộ máy
chính trị.
Ossip Piatnitski (có tên là Tarchis) đả là lãnh tụ số 2 cho đến năm
1934 của tổ chức Komintern, chỉ đứng sau Manouilski. Ông được ũy nhiệm
trách vụ tổ chức ( lo riêng về các vụ tài chánh cho các đảng cộng sản
của nước ngoài và các liên lạc bí mật của Komintern toàn thế giới) và
sau được bổ nhiệm phụ trách phân bộ chính trị và hành chánh của ũy ban
trung ương đảng cộng sản thống nhất sô viết PCUS. Ngày 24 tháng 6
năm1937, ông đả lên tiếng tại đại hội toàn đảng của ũy ban trung ưöng
để phê bình về việc các biện pháp đàn áp và việc ban các quyền đặc biệt
cho vị chỉ huy của cơ quan NKVD là Iejov. Staline đả trở nên giận giữ
và đả bắt buộc phải tạm ngưng cuộc họp và đả cho làm các áp lực tồi tệ
nhứt để Piatnitski hối cải. Nhưng việc không thành, ngày hôm sau họp
trở lại Iejov đả tố cáo Piatnitski, ngày xưa đả là nhơn viên công an
của nhơn viên Nga hoàng và ông này liền bị bắt vào ngày 7 tháng 7.
Iejov đả cưỡng bách Boris Muller (Melnikov) đả tố cáo chống lại
Piatnitski, đến ngày 29 tháng 7 năm 1938 Muller bị hành quyết. Tăp đoàn
quân sự tòa án tối cao của sô viết đả xữ Piatnitski nhưng ôbng này đả
không nhận mình la thủ phạm làm giám điệp cho nước nhật bản. Bị kết án
tữ hình, ông này bị xữ bắn vào đêm - 2giờ rạng ngày 30 tháng 7 năm
1938. Nhiều cán bộ thuộc tổ chức Komintern đả bị hành quyết vì bị tố
cáo là thuộc vào tổ chức ''chống Komintern, dưới sự chỉ huy của
Piatnitski, Knorin (Wilhelm Hugo) và Béla Kun. Còn có nhiều người khác
được coi là thuộc phe Trốt kít hay là phản cách mạng. Người cựu chỉ huy
công xã Hung gia lợi (Hongrie) là Béla Kun vào đầu năm 1937 đả chống
lại Manouilski, đả bị người này (có lẽ theo chỉ thị của Staline) và bị
coi là các lời phê bình của Béla Kun là nhắm thẳng vào Staline. Béla
Kun đả phản đối và để tỏ lòng thành thật của mình, ông ta đả phản công
trở lại nhắm vào Manouilski và Moskvine và theo ý của Béla Kun hai
người này phải chịu trách nhiệm về việc làm ''đại diện xấu'' cho tổ
chức Komintern bên cạnh đảng cộng sản thống nhất Sô-viết PCUS, và củng
theo sự nhận định của ông, đây là nguyên do của các việc đả đưa đến sự
vô hiệu lực của tổ chức Komintern. Hiện diện trong buổi họp này có các
lãnh tụ của các đảng cộng sản nước ngoài : Palmiro Togliatti, Otto
Kunsinen, Wilhelm Pieck, Klément Gottwald, Arvo Tuominen, không một
người nào lên tiếng bảo vệ. Sau cuộc họp, Georgi Dimitrov đả xin chấp
thuận một nghị quyết : vụ Béla Kun sẽ do một uỹ ban đặc biệt cứu xét.
Theo đường lối của ủy ban đặc biệt, Béla Kun chỉ có quyền bị bắt giam
lúc rời khỏi phòng họp. Ông này đả bị hành quyết ở dưới hầm nhà tù
Loubianka vào lúc nào không ai biết.
Theo sự nhận xét của M. Panteleĩev, mục đích tối thượng của các cuộc
thanh trừng là tận diệt tất cả các cuộc chống đối lại chính sách độc
tài của Staline. Tất cả các người nào có thiện cảm với các người Thợ
thuyền chống đối, hay là những người nào còn có liên lạc với các người
lãnh tụ ngày xưa gần với Trotskilà những cái mục tiêu đàu tiên của các
việc đàn áp. Các nhà lãnh tụ người Đức đả từng thuộc vào phân bộ do
Heinzheumann ( đả bị thủ tiêu vào năm 1937 ) hay là những người lảnh tụ
thuộc nhóm dân chủ trung ưöng, tất cả cùng đều chịu chung số phận là bị
đàn áp. Vào thời đó, theo lời khai của chứng nhơn Jalov Matousov, chỉ
huy phó của phân bộ công an '' mật '' của GUGB-NKVD, mỗi một người chỉ
huy cao cấp của bộ mày điều khiển nhà nước đều có một hồ sơ riêng, mà
người này không được biết, trong hồ sơ này thâu thập mọi tin tức và tài
liệu để có thể dùng để ''chống lại'' y khi nào cần đến. Các vị lãnh tụ
như Kliment Vorochilov, Andrei Vychinski, Lazare Kaganovitch, Mikhaĩl
Kalinine, Nikita Kroutchev, đồng đều có hồ sơ cá nhân. Vì vậy, việc có
thể có là các nhà lãnh đạo của tổ chức Komintern đều bị đặt dưới sự ngờ
vực như các lảnh tụ có tên được kể ở phần trên.
Chúng tôi xin thêm vào là các vị lãnh tụ cao cấp gốc không phải là
người Nga, thuộc tổ chức Komintern cũng tham dự đắc lực vào các cuộc
đàn áp. Một trường hợp điễn hình là lãnh tụ người Italie là Palmiro
Togliatti, một trong những người thư ký của tổ chức này và sau khi
Staline đả qua đời được coi là người cởi mở và chống đối lại các hành
động cùng phương pháp khủng bố. Nhưng chính Togliatti đả đùng lên tố
cáo Hermann Schubert, một càn bộ của tổ chức Cứu giúp đỏ quốc tế và đả
cản trở người cán bộ này đùng lên giải thích các điều bị tố cáo, trong
cuộc họp. Bị bắt giam sau đó, Schubert đả bị xữ bắn. Hai vợ chồng
Petermann là người cộng sản đả tị nạn ở Nga sau khi Hitler nắm chính
quyền ở Đức vào năm 1933 đả bị Togliatti, tố cáo trong một buổi họp là
'' các nhơn viên của Hitler'', vì hai vợ chồng này vẫn liên lạc thư từ
với gia đình . Vài tuần lễ sau đó, họ đều bị bắt. Togliatti đả hiện
diện trong cuộc ''tế thần Béla Kun'' và đả ký tên vào bản nghị quyết
lên án tữ hình người này. Ông củng tham dự vào ''cuộc thủ tiêu'' đảng
cộng sản Ba lan vào năm 1938. Vào dịp này ông đả chấp thuận vụ xữ án
lần thứ ba ở Moscou và đả kết thúc : '' Hảy giết các tên gây ra chiến
tranh, hảy giết các tên gián điệp, và các tên phát-xít ! Hoan hô đảng
của Lénine và của Staline, là những người bảo vệ nhiệt tình cuộc cách
mạng tháng 10, bảo đảm thắng lợi cho cuộc cách mạng thế giới ! Hoan hô
người tiếp tục sự nghiệp của Feliks Dzerjinski, hoan hô Nicolas
Iejov.''
Khủng bố trong lòng đảng
cộng-sản
Sau khi đả ''thanh trừng'' xong các phần tử mà đả bị
Staline nghi ngờ là chống lại ông trong ũy ban trung ương của tổ chức
Komintern, ông quay sang tiếp tục ''thanh trừng'' các phân bộ của
''Quốc tế cộng-sản''. Phân bộ đầu tiên được ông chiếu cố đến là phân bộ
của đảng cộng-sản Đức. Cộng đồng người Đức sống trên đất Nga gồm có :
(ngoại trừ các người mang quốc tịch Nga) mà nguồn gốc là hậu duệ
của các người dân Đức, đã di cư sang vùng sông Volga, theo lời kêu gọi
của hoàng tử Catherine II vào thế kỹ thứ 18, các người của đảng cộng
sản Đức KDP, các người chống phát-xít tị nạn ở Ngavà các người công dân
của nền cộng hòa Weimar họ đả tình nguyện sang Nga để xây dựng ''chủ
nghĩa xã-hội''. Tất cả các đùc tính thuộc loại này đả không có một hiệu
năng nào có thể bảo vệ họ khi mà lhởi điễm của các cuộc bắt giam đã
diễn ra vào năm 1933. Tổng số là 2/3 các người Đức chống Phát xít di cư
sang Nga là nạn nhơn của các cuộc đàn áp.
Còn về số phận của các người lãnh tụ đảng cộng-sản Đức, sốphận của ho
đả được định đoạt trên các danh sách có tên là : ''Kaderlisten'' do các
lãnh tụ của họ là Wilhelm Pieck, Herbert Welner và Wilhelm Florin đồng
chịu trách nhiệm lập nên danh sách này dùng để khai trừ hay là hành
quyết các đảng viên. Danh sách đầu tiên đề ngày 3 tháng 9 năm 1936, và
danh sách chót đề ngày 21 tháng 6 năm 1938. Sau chiến tranh đảng cộng
sản ở Đông Đức đổi tên là đảng xã hội thống nhất SDE, đả cho lập một ũy
ban kiễm soát về các bản danh sách của ''Kaderlisten''và đả thông báo
có con số là 1.136 người. Vào năm 1937 con số các người bị bắt giam lên
đến 619 người và tiếp tục cho đến năm 1941 thêm 21 người. Người ta
không biết số hơn phân nửa số phận của củ các người bị tù đài này (
trong số 666 người bị án ). : có lẽ họ đả chết trong lúc bị đưa đi đày
hay đả chết ở các trại giam cưởng bách lao động. Được biết rỏ là đả có
82 người bị hành quyết, 197 người đả chết vì bị tra tấn hoặc là ở trong
các khám đường và 132 người đả bị giao trả lại cho công an của nước
Đức vào thời bấy giờ là cơ quan Gestapo. Còn lại 150 người khác
đả bị kết án tù rất là nặng, và họ đả sóng sót, sau khi đả ỏ số năm bi
kết án và họ được rời đất Nga. Một trong các lý do buộc tội các người
này là họ đả thất bại trong các hành động chống lại cuộc thắng bầu cữ
để cho Hitler lên nắm chính quyền và để chủ nghỉa Quốc Xã đả thành công
trên đất Đức. Giai đoạn thê thãm và tệ haị nhất đả xảy ra khi mà
Staline đả tỏ ra thái độ '' vô liêm sĩ'' thái quá ; đó là việc ông
chuyễn giao cho Hitler các người chống Phát xít. Từ đầu năm 1937, các
người cầm quyền sô viết đả quyết định trục xuất các người dân Đức này
ra khỏi đất Nga. Ngày 16 tháng 2, mười người được biết tên sau đây :
Emil Larisch một chuyên viên sinh sống tại Nga từ năm 1921, Arthur
Thils kỹ sư sang Nga vào năm 1931, Kurt Nixdorf giáo sư đại học phục vụ
ở học viện Mars-Engel và Wilhelm Pfeiffer người cộng sản. Họ bị bắt từ
năm 1936 với tội trạng là làm gián điệp và có các hoạt động ''thân phát
xít'', và đại sứ của Đức quốc là Von Schulenburg đả can thiệp cho họ
với bộ ngoại giao sô viết, thời đó do Maxime Litvinov lãnh đạo. Lúc
giải giao cho công an Đức, Pfeiffer đả mưu toan tự tữ sau khi xin
được trục xuất sang nước Anh bị thất bại vì y biết chắc chắn rằng nếu
về đến Đức thì y sẽ bị giết. Sau 18 tháng bị giam cầm, họ bị giải lao
qua biên giới Nga-Balan và từ đó không có ai biết rõ được số phận của
họ ra sao. Trong lúc di chuyễn xuyên qua nước Balan để đến nước Đức,
khi đi qua Varsovie, Arthur thils đả may mắn chạy thoát vào tòa đại sứ
Anh quốc để xin tị nạn chính trị. Các người khác đả không có được sự
may mắn này. Otts Walther làm nghề in trên thạch bản và cư ngụ ở
Léningrad từ năm 1908, khi bị đưa về đến Berlin ngày 4 tháng 3 năm
1937, và tạm trú ở một trung tâm tiếp cư, ông này đả nhảy lầu qua cửa
sổ để tự tữ. Cuối tháng 5 năm 1937, đại sứ Von Schulenburg đả chuyễn
giao cho nhà cầm quyền sô viết, hai danh sách người Đức bị bắt giam và
mong là họ sẽ bị trục xuất ra khỏi nước Nga. Trong số các tên nơi hai
danh sách này có tên nhiều người chống Phát xít và Kurt Nixdorf. Các
cuộc thương lượng được diễn ra dưới một thể thức mới : các người so
viết chấp thuận việc trục xuất các người Đưc theo lời yêu cầu của tòa
đại sứ Đức ( một số là 37 người đã bị trục xuất rồi). Trong 2 tháng,
tháng 11 và tháng 12 năm 1937 một số là 148 người Đức đả bị trục xuất ;
và trong năm 1938 có thêm 445 người bị trục xuất. Bị giải giao đến biên
giới các nước Balan và Lettonie, có khi từ Finland những người bị trục
xuất này - trong số này có các người Áo thuộc Schutzbünder - họ liền bị
các người đại diện cho nước Đức kiễm soát họ. Trong trường hợp của Paul
Meisel, người cộng sản Áo bị trục xuất, y bị giải đến biên giới nước Áo
vào tháng 5 năm 1938 và giao cho cơ quan Gestapo. Là người Áo, y bị đüa
vào trại Auschwitz và biệt tích luôn từ đó .
Việc ' thông đòng cực tốt '' giữa nước Đức quốc xã và nước Nga sô viết
đả báo trước về bản thỏa ước Sô-viết - Quốc xảđược ký kết vào mùa thu
năm 1939 và đả nói lên thực chất của việc hội tụ nơi các chế độ độc tài
( nhận sét của Lorge Semprun.) Sau khi thỏa ước được ký kết, việc trục
xuất các người dân Đức đả diễn ra trong các điều kiện thê thãm hơn. Sau
khi đả đánh bại nước Balan do Hitler và Staline, hai cường quốc này đả
có một biên giới chung và có thể đưa các người bị trục xuất từ các khám
đường sọ-viết qua thẳng các khám đường Đức quốc xã. Từ năm 1939 đến năm
1941 đả có từ 200 đến 300 người cộng sản Đức đả được giải giao cho cơ
quan Gestapo, để cho người đồng minh mới ( sô viết ) được dịp
chứng tỏ thiện chí của mình. Ngày 27 tháng 11 năm 1939, một thỏa ước
mới được hai bên ký kết. Từ tháng 11 năm 1939 đến tháng 5 năm 1941
khoảng 350 người đả bị trục xuất trong số này có 85 người Áo. Trong số
người này có Franz Koristchoner, một trong những người sáng lập ra đảng
cộng sản Áo, và sau đả là cán bộ của tổ chức quốc tế công đoàn đỏ ; sau
khi bị đüa đi đày ở miền cực Bắc, ông bị giải giao cho cơ quan Gestapo,
được giải về Vienna, ông bị tra tấn và hành quyết ở Auschwitz ngày 7
tháng 6 năm 1941. Các nhà cầm quyền sô viết '' bất chấp '' việc các
người bị trục xuất là gốc Do thái ( họ thi hành chính sách : tao
muốn giết nhưng sợ mang tiếng ác, giải giao cho bọn Quốc xã, sớm muộn
gì nó cũng giết chết như thế sẽ tạo thêm sự căm thù với bọ Đức quốc
xã). Nhạc trưỡng và sáng tác nhạc Hans Walter David, người Do thái và
đảng viên KDP đả bị giải giao cho cơ quan Gestapo và bị giết trong
phòng hơi ngạc vào tháng 6 năm 1942 tại trại Madjanek ; cùng nhiều
trường hợp khác : Nhà vật lý học Alexandre Weissberg đả sốngsót và đả
viết hồi ký. Người vợ của Heinz Neumann, người đả bị khai trừ ra khỏi
ban lãnh đạo của KDP và đả di cư qua Nga, tên là Magarete Buber-Neumann
đả là chứng nhơn và đả tố cáo việc thông đòng giữa So viết và Đức quốc
xã. Sau khi bị đüa đi lưu đày ở Karaganda thuộc vùng Sibérie, bà cùng
các người vô phước khác đả bị giải giao cho cơ quan Gestapo vào tháng 2
năm 1940. Cuộc '' trao đổi '' này đả khiến bà bị giam ở trại giam
Ravenbruck. Bà Neumann đả thuật lại trong quyễn hồi ký của bà như
sau :
Chuyện xãy ra trên cầu Brest-Litovsk
Ngày 31 tháng 12 năm 1939, người ta đả gọi chúng tôi thức dậy vào lúc 6
giờ sáng, sau khi bận quần áo và cạo râu, chúng tôi ngồi chờ đợi một
vài giờ trong một căn phòng. Cùng với chúng tôi có một người Hung gia
lợi gốc Do thái, ngưòi này tên Bloch, y đả trốn qua Đức sau cuộc thất
bại của công xã 1919. Nhờ dùng giấy tờ giả mạo, y đả sinh sống ở Đức
với giấy tờ giả mạo này và tiếp tục hoạt động cho đảng. Về sau y cũng
di cư sang Nga, và vẫn dùng giấy tờ giã mạo. Y đả bị bắt và mặc dầu đả
phản đối liên tục, y vẩn bị giải giao cho cơ quan Gestapo. Trong đêm 31
tháng 12 qua sáng 1 tháng giêng năm 1940, đoàn xe lửa vẫn tiếp tục
chạy, chuyến tàu này đả đưa trở về đất Đức 70 người chiến bại. Đi xuyên
qua nước Ba lan bị tàn phá vì chiến tranh, chúng tôi tiếp tục đi về
thành phố Brest-Litovsk. Trên chiếc cầu tên Bug chúng tôi đợi các nhân
viên của chế độ độc tài của Âu-châu, đó là cơ quan Gestapo.
Alexandre Weissberg trong chuyến di chuyễn này đã đào thoát được. Ông
này đã liền gia nhập vào đội ngũ kháng chiến người Balan và cùng chiến
đãu với các người này. Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đã vượt thoát
qua nước Suède, Thụy điễn và sau ông qua nước Anh. Trong quyễn hồi ký
của ông và của bà Neumann với tựa đề : Tôi tố cáo, nhà xuất bản
Fasquella 1953, Ông viết '' Có ba người đả từ chối đi qua cầu :
một thầy giáo người Đức mà tôi quên mất tên, một ngưới thợ tên Bloch
người Hung gia lợi, và một người Do thái. Họ đả bị dùng sức mạnh lôi
qua cầu. Các người lính SS đả nổi cơn phẩn nộ và họ trúc lên đàu người
Do thái. Chúng tôi được chuyễn lên một đoàn xe lửa khác và đưa về
Lublin ...., tại đây cơ quan Gestapo tiếp quản chúng tôi và chúng tôi
biết thêm rằng khi cơ quan NKVD giao chúng tôi cho những người lính SS
quốc xã, họ cũng giao luôn tất cả hồ sơ cá nhân của chúng tôi. Vì vậy
trong hồ sơ với tên thiệt của tôi, còn có ghi tôi là vợ của lãnh tụ
cộng sản Neumann và chồng tôi là người bị nhũng người Đức quốc xã khinh
ghét nhất .
Bà Magarete Buber-Neumann đả là nhơn chứng và lời tố cáo trên. Bà đả
khai trước tòa án , nhơn vụ xữ án của Lettres françaises chống lại
(kiện) Kravchenko, phiên xữ thứ 14. Bản ghi chép tốc ký đăng trên báo
La Jeune Parque 1949 - Bà Magarete Buber-Neumann bị cơ quan NKVD bắt
đưa đi đày ở Sibérie vào năm 1937. Sau bà bị giải giao cho các người
quốc xã Đức và bị đưa đi giam ở trại tập trung Ravensbruck. Bà sống sót
và được giải thoát vào năm 1945.
Cùng một lượt với các người cộng sản Đức, các người lãnh đạo của đảng
cộg sản Palestine, trong số này có một số người đả di cư trước khi xảy
ra chiến tranh, cũng bị bộ máy khủng bố ''đớp'' (happer) luôn. Joseph
Berger ( 1904-1978) cựu thơ ký của đảng cộng sảnPalestine (tên viết tắt
PCP) từ năm 1929 đến năm 1931 , đả bị bắt giam ngày 27 tháng 2 năm 1935
và chỉ được trả tự do sau đại hội lần thứ 20 của đảng cộng sản Sô viết
vào năm 1956. Nhiều người lãnh tụ cộng sản khác đả bị hành quyết vào
nhiều ngày khác nhau hay đả biến mất trong các trại cưởng bách lao
động. Ông Wolf Averbuch đả được làm giám đóc xưởng chế tạo máy kéo ở
Rostsv trên sông Don, đả bị bắt giam vào năm 1936 và bị hành quyết vào
năm 1941. Chính sách tiêu diệt có phương pháp các đảng viên của PCP hay
là các nhóm '' xã hội - Do thái '', những người này đả di cư sang Nga,
chính sách này có liên lạc với chính sách sô-viết đối với thiểu số dân
gốc Do-thái với việc thành lập vùng tự trị ở Birobidjan với các người
chịu trách nhiệm đả bị tố cáo buộc tội '' kẽ thù của nhơn dân''. Sau
ông này, các nhà lãnh đạo của vùng tự trị này củng bị khiển trách
(réprimé). Samuel Augurskij (1884-1947) đả bị tố cáo là đả thuộc vào
nhóm '' judéo-phát xít''. Tất cả thành viên của phân bộ Do thái của
đảng cộng sản Nga (tên Jewsekija) đều bị giải tán. Mục đích là phá bỏ
các cơ cấu Do-thái trong lúc nhà nước sô-viết đang tìm sự giúp đở của
tất cả các người Do-thái sinh sống ngoài đất Nga.
Một trong những nhóm chịu sự khủng bố khốc hại và nặng nề hơn mọi nhóm
khác là nhóm các người cộng sản Balan. Trong các bản thống kê về các
cuộc đàn áp, họ đứng vào hàng thứ hai sau các người Nga. Vì ở một hoàn
cảnh đặc biệt, đảng cộng sản Balan đả bị tuyên bố '' giải tán '' chính
thức sau một cuộc biểu quyết '' mau chóng '' của (tổ chức Komintern),
uỹ ban hành chánh trung ưöng ngày 16 tháng 8 năm 1938. Staline đả luôn
luôn nghi ngờ đảng cộng sản Balan (tên viết tắt KPP) là đả liên tục có
nhiều khuynh hướng sai lạc và trật đường lối. Có nhiều người lãnh đạo
của đảng này đả là các người thân cận của Staline vào trước năm 1917 và
đả sống lẫn lút ở nước Nga, không được một sự bảo vệ pháp lý nào cả.
Năm 1923, KPP đả ngã theo phía Trotski. Trước khi Lénine qua đời, ban
lãnh đạo đả chấp thuận một nghị quyết thuận lợi cho phái công nhơn
chống đối. Và sau đó đả theo khuynh hướng của người Lục Xâm Bảo
(Luxembourgisime) và đả bị phê bình. Nhơn kỳ đại hội 5 của tổ chức
Komintern, Staline đả xa thải ban lãnh đạo lịch sữ của KPP - là Adolf
Warski, Maximilian Walecki và Wera Kostrewa-Kochtchva - bước đàu tiên
để nắm lấy quyền kiễm soát của tổ chức Komintern. Về sau KPP bị
tố cáo là cái ổ của tổ chức Trốt-kít. Việc tóm tắt ngán ngủi này đả có
thể giải thích riêng cho việc thanh trừng cấp tiến đối với nhiều vị
lãnh tụ của đảng này mà phần lớn là gốc Do Thái. Và củng có vụ : Tổ
chức quân sự Ba lan (tên viết tắt là POW) vào năm 1933. (xin xem phần
đóng góp của Andrzej Pacj Paczkowski) Và củng xin ghi nhớ yếu tố sau
đây : chính sách của tổ chức Kominternlà bắt buộc phân bộ cộng sản
Balan là phải làm suy yếu chính quyền quốc gia Balan để có lợi cho liên
bang Sô viết và nước Đức. Có giả thuyết (hypo thèse) theo đó việc giải
tán KPP đả do yếu tố của nhucầu để sửa soạn việc ký kết thỏa ước Đức
quốc xã vàNga Sô viết, giả thuyết này đáng được chú ý. Đường lối hành
sự của Staline đáng được chú ý, với các lịnh và các chỉ thị của
Komintern đả lần lượt ra lịnh cho các lãnh tụ cộng sản Ba lan, các
người này ít lâu sau đó sẽ là các nạn nhơn của các cuộc thanh trừng do
Staline chủ xướng, lịnh triệu hồi họ trở về moscou và vì vậy gần như
không có được một người nào thoát khỏi bị thanh trừng. Trong số người
bị bắt giam chỉ có Wladyslaw Gomulka. Tháng 2 năm 1938 tờ báo Thơ tín
quốc tế (Correspondance internationale) suất bản mỗi tuần 2 số, dưới
bút hiệu của J. Swiecicki đả viết bài tố cáo toàn thể các đảng viên
đảng KPP. Trong cuộc thanh trừng khởi đầu từ tháng 6 năm 1937, người
tổng thư ký tên Julian Lenski đả được triệuhồi sang moscou và biến mất
từ đó. Mười hai người của ũy ban chấp hành trung ương cùng nhiều người
lãnh tụ thuộc loại hai và hàng trăm đảng viên bị thu tiêu. Việc thanh
trừng lan tràn qua các đảng viên đang chiến đãu ở trong đội ngủ của
Trung đòan quốc tế (Brigade nationale) đang xung kích ở mật trận nội
chiến Espagne : các chánh trị viên trung đòan Dombrowski, Kazimerz,
Cichowski, và Gustav Reicher liền bị bắt khi trở về moscou. Mãi đến năm
1942, vì nhu cầu chính trị để có tiếng nói chống lại ảnh hưởng của
chính phủ Balan hợp pháp tị nạn tại Londre, khi ấy Staline mới cho lịnh
tái thành lập lạiđảng cộng sản Balan dưới tên là ĐảngCông Nhơn Balan
(Parti ouvrier Blonais) viết tắt là PPR và đảng này về sau là nồng cốt
cho chính phủ Balan sau chiến tranh.
Đảng cộng sản Yougoslave cũng đả chịu quá nhiều đau khổ do các cuộc
khũng bố của Staline ra lịnh. Năm 1921 đảng cộngsản này đả chính thức
bị cấm hoạt động, các đảng viên thọat đàu di tản sang Vienna vào các
năm từ 1921 đến 1936, rồi sang Paris từ năm 1936 đến 1939. Nhưng một số
đông đảng viên đả chạy qua moscou vào năm 1925 và nơi đây được coi là
trung tâm. Họ là các học viên trường đại học của các dân thiểusố cộng
sản, của trường Quốc tế chính sách Lénine, và của trường Đại học
cộng sản Serdlov.Đến năm 1929, vị vua Yougoslave la Alexandre thiết lập
chế độ độc tài, lại thêm một lớp mới dân Yougoslave chạy qua sô-viết,
tăng cường thêm số người Yougoslave đả sống tại đây. Trong các năm của
thập niên 1930, tại liên bang sô-viết đả có từ 200 đến 300 người dân
Yougoslave sinh sống và là các cán bộ của cơ quan Komintern, hay trong
các tổ chức quốc tế khác và rieng cho tổ chức thanh niên cộng sản Quốc
tế. Lẽ dĩ nhiên các tổ chức này đýu do đảng cộng sản sô-viết thống nhứt
lãnh đạo. Các người cộng sản Yougoslave viết tắt là PCY. Trong nhiều
trường hợp đả phải có sự can thiệp của tổ chức Komintern vào các cuộc
tranh giành, các cuộc can thiệp đả thường xuyên diễn ra và nhiều khi có
tính cách cưỡng bức. Vào giữa năm 1925 đả diễn ra một cuộc liễm soát -
khai trừ ( tên gọi là Tchistka ) ở trong tổ chức KUMMZ, các học viên
của trường Đại học này có khuynh hướng thiên về phía các người thuộc
nhóm Công giáo chống đối. Opposition Ouvrière, chống lại viện trưởng
làb Maria J. Fzoukina. Vài người học viên đả bị đuổi ra khỏi trường và
bị khiển trách, có bố người trong số này đả bị bắt giam ( Ante ,
Ciliga, Dedic, và Eberling đả bị bắt và đưa đi đày tại Sibérie ). Đến
năm 1932, lại xãy ra một cuộc thanh trừng trong đảng PCY và 16 người
lãnh tụ khác đả bị khai trừ.
Sau khi Kirov bị ám sát, việc kiễm soát các người dân thuộc nước ngoài
trên bình diện chính trị đả được tăng cường vào mùa Thu năm 1936. Các
người lãnh tụ của PCY đều phải chịu sự kiễm thật ( vérification ) trước
khi họ chịu sự khủng bố. Khác với số phận các người công nhơn vô danh,
số phận của các người di dân thuộc diện chính trị đả cho biết rỏ : 8
người thư ký của ũy ban trung ương PCY, và 15 thành viên của ũy ban
trung ương củng 21 người thư ký thuộc các phân bộ địa phương đả bị bắt
và cùng mất tích tất cả. Một trong những người thư ký tên Sima
Marksvitch, đang phục vụ tại Viện Hàn Lâm Khoa Học, người này bị bắt
buộc phải di cư sang Nga sô viết, đả bị bắt vào thábg 7 năm 1939, đả bị
kết án 10 năm tù giam không có quyền lien lạc với bất cứ một ai và y đả
chết trong tù. Các người khác sau khi bị bắt đả bị hành quyết liền như
trường hợp của hai anh em Vujovic, Radimir là thành viên của ũy ban
trung ương PCY và Gregor thành viên của ũy ban trung ương quốc tế ; các
em của họ là Voja cựu thành viên trách nhiệm của thanh niên quốc tế
cộng sản đả liên đới với Troski vào năm 1927 đả biệt tích và làm cho
các em củay củng bị bắt giam.Milan gorkic, thơ ký của ũy ban trung ương
đảng PCY từ năm 1932 đến năm 1937 đả bị buộc tội '' tổ chức một toán
người chống lại sô viết trong lòng quốc tế cộngsản và đả lãnh đạo một
nhóm người khủng bố ở trong lòng của tổ chức Komintern '', tổ chức
khủng bố này do ông Knorin và Piatnitski chỉ huy. Vào giữa năm 1960,
PCY đả phục hồi danh dự cho cả hơn hàng trăm người nạn nhơn nhưng không
có làm một cuộc điều tra nào. Lẽ dỉ nhiên là các cuộc điều tra này, nếu
có sẽ đặc ra vấn dề gián tiếp cho '' các người đả là nạn nhơn của các
cuộc đàn áp dùng để nhắm vào các người thân Nga sô viết '' xãy ra
tại Yougoslavie sau cuộc ly khai giữa Yougoslavie và Liên bang sô viết
vào năm 1948. Nhưng lại đưa ra ánh sáng vấn đề '' nhứt nhối '' là việc
Tito (Josip Broz) lên làm chũ tịch đảng vào năm 1938 đả diễn ra sau một
cuộc thanh trừng đẫm máu. Truyện xãy ra khi Tito chống lại Staline , đả
không làm bớt được trách nhiệm của Tito trong các cuộc thanh trừng diển
ra vào các năm 1930, diễ ra trong đảng PCY.
Cuộc săn bắt các người trốt kít
Sau khi đả tàn sát các người cộng sản sống trên đất Nga sô-viết,
Staline khởi cuộc tấn công các người '' cộng sản '' ly khai sống ở các
nước ngoài. Và đây chỉ là dịp để cơ quan NKVD phô trương quyền lực của
họ trên khắp thế giới.
Trường hợp điễn hình và ngoạn mục là của Ignaz Reiss, tên thật là
Nathan Poretski. Reiss là một người Do thái trẻ tuổi làm cách mạng từ
lúc chiến tranh 1914-1918 còn đang diễn ra, như ở Trung Âu đả từng xãy
ra, tổ chức Komintern đả tuyễn mộ các người cách mạng trẻ tuổi. Là một
người '' khuấy rối '' chuyên nghiệp ( agitateur professionnel )
Reis phục vụ trong các hệ thống bí mật quốc tế và đả hoàn thành '' tốt
các nhiệm vụ mà y được giao phó và y đả được tặng huy chương Cờ Đỏ vào
năm 1928 ''. Sau năm 1935, y được cơ quan NKVD chiếu cố vì cơ quan này
được bổ nhiệm kiễm soát tất cả các bí mật ở các nước ngoài cùng với
nhiệm vụ về gián điệp ở nước Đức. Cuộc xữ án đàu tiên ở Moscou đả làm
''đảo lộn '' tinh thần của Reiss và y quyết định cắt đứt liên hệ cảm
tình với Staline.
Hiểu rỏ nội bộ cùng đường lối xử sự và các mánh khóe của cộng sản,
Reiss đả chuẩn bị chu đáo cuộc ''đào tẩu'' của y và ngày 17 tháng 7 năm
1937, y cho công khai công bố bức thư của y gởi cho ũy ban đảng cộng
sản Nga thống nhất. Trong bức thư y đả giải thích và nêu danh đích danh
Staline và chủ nghĩa Stalinis mà y gọi là '' lợi dụng một cách tồi tệ
các cơ hội chũ nghĩa , mà nơi đó các cơ hội chủ nghĩa này không có mộ
nguyên tắc hành sự ; chỉ biết làm đổ máu, thực hiện các lời nói láo, và
với các việc này sẽ đầu độc toàn thế giới, sẽ đưa đến việc tiêu diệt
các phong trào công nhơn ''. Reiss củng đòng thời cho biết là ysẽ gia
nhập vào hàng ngũ của Léon Trotski. Như vậy là Reiss đả không ngờ là y
tự ký vào lịnh tử hình đối với y. Cơ quan NKVD, lập tức huy động mạng
lưới bí mật của cơ quan này tại Pháp và đả tìm ra chổ Reiss đang ở tại
Thụysĩ và gài bẩy để hạ sát Reiss. Tại Lausanne buổi tối ngày 4 tháng 9
nam 1937, hai đảng viên người Pháp đả bắn chết Reiss, trong lúc đó một
nữ nhơn viên NKVD toan tính ám sát vợ và đứa con trai của Reiss bằng
cách đem biếu họ một hộp sô-cô-la (chocolat) có tẫm thuốc độc. Mặc dầu
với các việc điều tra ''cần mẫn'' của cơ quan công an Pháp và Thụy
sĩ đều không tìm ra được hai tên sát nhân và người nữ nhơn viên
hầu có thể truy tố họ được. Trtoski đả tố cáo Jacques Duclos lúc ấy là
một trong các người thơ ký của đảng cộng sản Pháp (PCF) và yêu cầu
người thư ký riêng của mình là Jan van Heijenoort gởi một bức điện thư
cho thủ tướng Pháp : '' Chantemps, chủ tịch hội đòng bộ trưởng, trong
vụ ám st Ignaz Reiss, / Ăn trộm các văn khố của tôi và các tội ác tương
tự, tôi xin phép nhấn mạnh phải hỏi cung, hay ít nửa là như nhân chứng
Jacques Duclos, phó chủ tịch của phòng các dân biểu và là nhơn viên kỳ
cựu của cơ quan Guépou''. Bùc điện văn này không đạt được một cách quả
nào và Jacques Duclos là phó chủ tịch phòng các dân biểu từ năm 1936.
Vụ ám sát Reiss lẽ dỉ nhiên là ngoạn mục và năm trong một kế hoạch rộng
lớn để thu tiêu các người Trốt kít. Vì vậy không lấy gì làm ngạc nhiên
về việc tàn sát các người thuộc phe trốt kít ở Nga cũng như việc tàn
sát các người khác. Việc làm ngạc nhiên mọi người là dù ở các nước
ngoài, các cơ quan đặcbiệt của NKVD ở các nước ngoài đả '' sốt cuồng
lên '' (avec hargne) để thủ tiêu các người đối lập, hay là các người
theo phe trốt kít được thành lập tại các nước này. Căn bản của công tác
này là việc kiên nhẩn để xâm nhập (infiltration) vào các nhóm trốt kít
này. Tháng 7 năm 1937, vị lãnh tụ chịu trách nhiệm của văn phòng '' đối
lập trốt kít quốc tế '' tên là Rudolf Klément đả mất tích. Ngày 28
tháng 8 người ta khám phá ra một tử thi cục đầu và tay chân, nổi lên
trên sông Sein gần Paris, và người ta đả nhận diện được là Klement.
Người con trai của Trotski, tên là Leon Sedov, đả chết ở Paris sau khi
chịu một cuộc giải phẩu ; các điểu kiện về cái chết này có nhiều điều
đáng nghi ngờ và thơn nhân của kẻ quá cố đả nghĩ đây là một vụ ám sát
do các cơ quan đặcbiệt của Nga sô viết đả tổ chức khéo léo. Trái lại
trong cuốn hồi ký của Pavel Soudsplatov đả ghi là không hề có việc này.
Nhưng việc được xác nhận là Léon Sedov đả bị đặt dưới sự theo dỏi chặt
chẻ (surveillance) của cơ quan NKVD. Một người thân cận của Sedov, tên
là Mark Zborowski, là một nhơn viên của cơ quan NKVD được phái xâm nhập
vào số các người thân cận Sedov.
Ngược lại, Soudoplatov đả nhìn nhận là vào tháng 3 năm 1939, chính
Béria và Staline đả ra lịnh ám sát , củng chính Staline cùng với
Soudoplatov lo phụ trách việc này. Staline đả nói với y : '' Phải thanh
toán y nội trong năm nay trước khi chiến tranh xảy ra, việc chiến tranh
xảy ra là một việc không thể tránh được và còn thêm : ( đồng chí
sẽ tùy thuộc vào Béria và không người nào khác, vậy đồng chí chịu hoàn
toàn trách nhiệm về nhiệm vụ này ). Một cuộc lùng bắt tàn nhẩn đả diễn
ra và đưa đến Mexico, là nơi người lãnh tụ của phong trào của Đệ Tứ
Quốc Tế đang cư ngụ, sau khi người này đả bôn tẩu qua các nơi như
Paris, Bruxelle và Mỹ quốc. Với sự đòng lỏa của đảng cộng sản Mexico,
các nhơn viên của Soudsplatov sữa soạn và thi hành một cuộc mưu sát đàu
tiên vào ngày 24 tháng 5 mà Trotski đả thoát được cuộc mưu sát này và
coi như là một phép lạ ( micracle ).
Với sự '' xâm nhập '' vào giới thân cận của Trotski, tên Ramon
Mercader, một tên giả của người nhơn viên của Soudsplatov để tìm cách
trừ bỏ Trotski. Mercader đả lần lần gây được lòng tin của một người nữ
lãnh tụ trốt kít và đả đến gần được '' ông Già ''. Vì ít nghi ngờ,
Trostki đả chấp nhận cho tên này gặp theo lời yêu cầu của hắn vì hắn
muốn xin ý kiến của Trotski về một bài viết của hắn để bào chửa cho
Strotski, một người cách mạng. Trong
lúc Trostki đang ngồi bên bàn giấychú ý đọc bài viết của Mercader thì
tên này đến đứng bên cạnh Trotski và dùng một cái búa nhọn bằng sắt đặp
vào đầu Trotski. Bị vết thương quá nặng, Trotski rú lên một tiếng lớn.
Vợ của Trotski và các người hộ viên liền chạy ùa vào, còn tên Mercader
thì đùng im, hắn đả thành công việc mưu sát. Ngày hôm sau Trotski qua
đời.
Louis Aragon - năm 1931
Tiên triệu cho thời hoa
anh đào.
Tôi ca tụng cơ quan
Guépou đả thành hình, ở Pháp vào thời điễm này.
Tôi ca tụng cơ quan
Guépou, cần thiết cho nước Pháp.
Tôi ca tụng cho cơ quan ở
mọi nơi, và không có tại mọi nơi.
Tôi ca tụng cho cơ quan
để chuẩn bị cho kết thúc một xã hội.
Hảy xin cơ quan Guépou để
bảo vệ cho các người bị phản bội.
Và để bảo vệ cho các
người luôn luôn đả bị phản bội.
Hảy xin một cơ quan
Guépou, anh mà người ta đè nén và người ta giết.
Hảy xin một cơ quan
Guépou, anh cần có một cơ quan Guépou.
Hoan hô cơ quan Guépou
hình ảnh của biện chứng pháp của sự anh hùng.
Và người ta có thể chống
lại hình ảnh của các người phi công ngu độn.
Do các thằng ngu độn là
các anh hùng khi chúng không còn, cái mõm của chúng xuống đất.
Hoan hô cơ quan Guépou,
hình ảnh vĩ đại của biện chứng pháp.
Hoan hô cơ quan Guépou
chống lại ''trời'' Chiappe và bài quốc ca Marseillaise.
Hoan hô cơ quan Guépou
chống lại giáo hoàng và các con rận.
Hoan hô cơ quan Guépou
chống lại sự nhẫn nhục của các ngân hàng.
Hoan hô cơ quan chống lại
các cuộc thao luyện ở hướng Đông.
Hoan hô cơ quan Guépou
chống lại gia đình.
Hoan hô cơ quan Guépou
chống lại chủ nghĩa xả hội loại của Caballero Boncour và Mac Donald
Zoergibel.
Hoan hô cơ quan Guépou
chống lại tất cả kẽ thù của giới vô sản.
Hoan hô cơ quan Guépou.
Do Jean Malaquais sao
lục. Tên Louis Aragon người yêu nước nhà nghề. Phụ trương của nghuyệt
san Các khối quần chúng. Tháng 2 năm 1947.
Việc xâm nhập giữa các
đảng cộng sản và các chi bộ thuộc tổ chức Komintern, do cơ quan NKVD
chủ động đả bị Trotski tố cáo và ông đả nhận thức là tổ chức Komintern
đả bị cơ quan Guépou và NKVD chi phối. Trong văn thư đề ngày 27
tháng 5 năm 1940 gởi cho ông tổng biện lý của nước Merxico, ba ngày sau
khi mưu sát hụt Trotski, và ông là nạn nhơn ; ông đả viết : '' Cơ quan
Guépou đả có các truyền thống và các phương pháp đả được tạo dựng ở
ngoài lảnh thổ của Liên bang so viết. Cơ quan Guépou cần sự che
chở hợp pháp hay bán hợp pháp để tuyển mộ các nhơn viên ; cơ quan này
đả tìm được môi trường thuận tiện và sự che chở nơi cái gọi là '' các
đảng cộng sản ''. Trong bản văn cuối cùng, củng nói về các câu chuyện ở
một cuộc mưu sát xãy ra ngày 24 tháng 5, ông đả trở về các chi tiết của
hành động này mà ông ''suýt '' là nạn nhân. Đối với ông, ông vẩn dùng
danh hiệu GPU được chấp nhận năm 1922 khi ông còn làm chỉ huy trưởng cơ
quan này đó là '' bộ phận chính quyền lực của Staline '' và đó củng là
'' công cụ dùng để khủng bố thống trị độc tài '' ở URSS với một tinh
thần toi đòi và vô liêm sĩ, tinh thần này đả lan tràn trên toàn tổ chức
Komintern và đả đàu độc phong trào các người công nhơn đến tận xương
tủy. Ông đả nhấn mạnh rất dài dòng về chiều hướng đặc biệt này đả quyết
định nhiều đến các tầng lớp của các đảng cộng sản. Về phương diện tổ
chức, cơ quan GPU và tổ chức Komintern không giống nhau, nhưng họ
có sự liên kết không thể nào làm rời nhau ra. Họ dả bị bắt buộc phải lệ
thuộc vào nhau, không phải tổ chức Komintern ra lịnh cho GPU mà
trái lại cơ quan GPU đả chế ngự hoàn toàn tổ chức Komintern
Việc phân tích này đả dựa vào nhiều nguyên tố hay khái luận là do các
thành quả của hai chiến cuộc mà Srotski đả từng sống qua : Thứ nhất,
khi còn là một trong những người lãnh đạo một nhà nước sô-viết đang
thành hình và thứ hai, khi trở thành một người bị phóng trục ( proscrit
) bị săn đuổi qua mọi nước bởi các nhơn viên của cơ quan NKVD, tên các
người này ai cũng đều biết chắc chắn. Vào thời gian này đó là những
người chỉ huy các '' đặc vụ '' tổ chức này được Nikolai Iejov thành lập
vào tháng 12 năm 1936 : Serguei Spiegeglass ( y đả thất bại ) Pavel
Soudoplatov ( chết vào năm1996 ) và Naoum Eitingon ( chết vào năm 1918
) các người này đả thành công nhờ vào các đồng lõa.
Về việc ám sát Trotski xảy
ra ngày 20 tháng 8 năm 1940, tất cả các chi tiết đả được các cuộc điều
tra cho biết hết và do các cuộc điều tra tại chổ, về sau Julian Gorkin
đả tiếp tục cứu sét lại các hồ sơ của các cuộc điều tra đả được thực
hành. Hơn nửa người ta đả biết được ai là người chủ chốt
(commanditaire) trong vụ này, các nguồn tin đả được công nhận bởi
Soudoplato'' tên sát nhân là Jaime Raimon Mercader, con của Caridad
Mercader một người cộng sản phái nữ đả từ lâu làm việc cho tổ chức
''đặc vụ '', và cô này đả trở thành người tình của Naoum Eitignon. Tên
sát nhân Mercader đội lốt dưới tên Jacques Mornard để tìm cách đến gần
Trotski. Tên Jacques Mornard là tên của một người có thiệt, người
này ở Belgique và đả từ trần vào năm 1967. Jacques Mornard đả gia nhập
trung đoàn quốctế và đả chiến đãu bên Espagne. Có thể là giấy thông
hành của Mornard đả bị '' đặc vụ '' so viet mượn tạm, Mercader còn dùng
một tên khác là Jacson, người Canada đả chết khi chiến đãu tại Espagne
củng trong trung đoàn quốc tế và giấy thông hành của y củng để cho
Mercader xữ dụng. Ramon Mercader đả chết vào năm 1978 ở La Havane,
Fidel Castro đả mời y đến làm việc ở đây với tư cách là cố vấn cho các
việc thuộc về bộ nội vụ. Mercader đả được thưởng huân chương cao quý
nhất của liên bang so viết và đả được đem chôn ở Moscou trong vòng kín
đáo.
Staline sau khi đả trừ bỏ được đối thủ cuối cùng về chính trị, nhưng
không phải vì vậy mà các cuộc truy lùng các phần tử trốt-kít chấm dứt.
Gương mẫu của cộng sản Pháp đả biểu lộ tâm tính trong những phản ứng mà
các người lãnh tụ cộng sản Pháp đả hấp thụ được để đối phó với các
người lãnh tụ của các nhóm nhỏ người Trốt-kít.Trong khi nước Pháp bị
quân Đức chiếm đóng, có nhiều người trốt-kít Pháp đả bị tố cáo cho công
an Pháp hay là cơ quan Gestapo bắt giam họ, việc này là việc có thể xãy
ra. Ở trong các khám đường của Pháp và ở trong các trại tập trung thời
Vichy, các người Trốt-kít đều bị biệt giam riêng biệt. Tại Nontron
thuộc vùng Dordogne, Gérard Bloch đả chịu sự ngược đải bằng cách biệt
đải (ostracimes) trong tổng số các người cộng sản Pháp cùng bị giam do
sự mưu đồ của Michel Bloch (con của nhà văn Jean Richard Bloch. Sau đó,
Gérard Bloch đả được dời qua khám đường ở Eysses, có một thầy giáo phe
khán chiến người công giáo bị bắt giam chung đả báo trước cho Gérard
Bloch
Nằm trong bối cảnh hận thù mù quán này, vụ mất tích của bốn người
trốt-kít trong số này có Pietro Tresso, sáng lập viên đảng cộng sản
Italie xảy ra trong khu rừng kháng chiến (maquis) FTP ''wodli'' thuộc
vùng Haute Loire đả nói lên tất cả ý nghỉa. Họ cùng vượt ngục Puy en
Velay ngày 1 tháng 2 năm 1943 cùng với các người bạn cộng sản , năm
người đãu tranh trốt-kít đả được sự bao quản ( pris
en charge) của các người kháng chiến ( maquis) cộng sản. Một
trong 5 người này, vì sự tình cờ đả được tách rời ra khỏi nhóm
trốt-kít. Tên người này là Albert Demazière và là người mai mắn được
sống sót : Tresso, Pierre Salini, Jean Reboul, Abraham Sadek đýu đả bị
các người FTP hành quyết vào tháng 10, sau một vụ giả dạng (simulacre)
tòa xữ đáng chú ý. Các người nhơn chứng và các người diễn viên còn sống
sót đả thuật lại là 4 người đãu tranh này đả bị buột tội là '' toan
tính bỏ thuốc độc vào nước uống '', một lối tố cáo của thời trung cổ ''
moyen âge '' và đưa trở lại nguồn gốc Do-thái của Trotski. (Con của
Trotski tên là Sergueĩ còn ở lại nước Nga cũng bị tố cáo giống như 4
người đãu tranh trốt-kít ), và hơn nửa cũng có thêm một người tù của
các người kháng chiến gốc Do-thái tên là Abraham Sadeck. Như vậy, phong
trào cộng sản đả chứng tọ họ đả không tránh khỏi việc bài Do-thái một
cách vụng về. Trước khi họ bị ám sát, bốn người đãu tranh trốt-kít đả
được chụp hình , có lẽ để cho các tổ chức cao cấp của đảng cộng sản
Pháp nhận diện và họ bị bắt buộc phải viết bản mô tả tiểu sữ của họ
cùng các hoạt động đãu tranh.
Trong các trại tập trung, ( camp de concentration ) ở Đức, những người
cộng-sản tìm cách tiêu diệt các đối thủ chính trị ở gần họ bằng cách
lợi dụng các địa vị mà họ đả đạt được trong hệ thống các nất thang quản
trị ( échelle de gestion ) của các trại giam. Ông Marcel Beaufrère
người có trách nhiệm tại vùng Bretagne của đảng thợ thuyền quốc tế bị
bắt giam vào tháng 10 năm 1943 và đưa đi quatrại Buchenwald vào tháng
giêng năm 1944, đả bị nghi ngò là người của phe trốt-kít bởi một người
cộng sản làm xếp của các liên trại (interblocs) Mười ngày sau, một
người bạn báo cho anh biết là tổ cộng sản của trại 39, nơi anh đang ở
đả lên án tử hình anh và muốn đưa anh qua trại của các người sẽ được
làm vật thử nghiệm về y khoa , nơi đây họ sẽ chích vào người anh các vi
trùng của bệnh chí rận (typhus). Ông Marcel Beaufrère vào giờ chót đả
được các người đãu tranh người Đức cứu sống ? Họ chỉ cần xữ dụng phương
pháp tập trung của người Đức để trừ bỏ (débarrasser) các đối thủ chính
trị, dù là các người này củng là những nạn nhơn của cơ quan Gestapo hay
bọn SS , bằng cách gởi các người này đi vào các toán '' lao động nguy
hiễm nhứt ''(commando). Hai người Marcel Hic và Roland Filatre, cả hai
đều bị đưa đi trại Buchenwald và đả bị chuyển qua trại ' khũng khiếp
Dora', với sự ưng thuận của các cán bộ KPD, các cán bộ này đang làm các
việc hành chánh ở trong trại. Marcel Hic đả chết tại trại này. Tài liệu
của Rodslphe Prager viết trong bài : Các người trốt-kít ở trại
Buchenwald in trên nguyệt san '' phê bình cộng sản '' số 25 tháng 11
năm 1978. Còn về phần Roland Filatre sống sót và được giải phóng đả trở
về đời sống dân sự sau chiến tranh ; nhưng ông vẫn bị theo dỏi và năm
1948 đả thoát được một cuộc mưu sát tại nơi ông làm việc.
Nhiều vụ thủ tiêu các
người đãu tranh trốt-kít khác đả diễn ra sau khi nước Pháp được giải
phóng. Là một người công nhơn trẻ tuổi thuộc nhóm ''đãu tranh giai
cấp'' ở vùng Paris, Mathieu Bucholz đả ''biệt tích'' ngày 11 tháng 9
năm 1947, tờ báo của nhóm ông đả nêu lên thủ phạm của cuộc ''biệt
tích'' này là các người cộng sản thân Staline.
Ở Hy Lạp (Grece) phong trào trốt-kít không có thể nói là không đáng kể.
Một người thư ký của đảng cộng sản Hy lạp viết tắt là KKE tên Pandelis
Pouliopoulis, đả bị các người lính Italie xữ bắn. Ông này đả gia nhập
đảng cộng sản trước khi xãy ra chiến tranh. Khi xãy ra chiến tranh, các
người trốt-kít với tư cách cá nhơn, họ dả gia nhập vào hàng ngũ của
''mật trận giải phóng quốc gia'' (EAM) thành lập vào năm 1941 bởi các
người cộng sản. Tướng Aris Velouchiotis chỉ huy quân đội nhơn dân giải
phóng quốc gia (ELAS) đả ra lịnh xữ bắn lối 20 người lãnh đạo
trốt-kít.Sau ngày giải phóng việc bắt cóc các người đãu tranh trốt-kít
vẫn được tiếp diễn. Thườn thường họ bị tra tấn để phải khai báo và cho
địa chỉ của các đồng chí của họ. Năm 1946, trong bản phúc trình cho uỹ
ban trung ương đảng cộng sản Vassilis Bartzistas đả nêu lên con số 600
người trốt-kít đả bị tồ chức OPLA ( tổ chức bảo vệ các cuộc đãu tranh
bình dân) hạ sát. Trong con số 600 người này có thể gồm có người vô
chính phủ (anarchistes) hay là các người xã hội ly khai ( các người
Archéomarxistes, các người đãu tranh được tổ chức ngoái vòng lệ thuộc
của đảng cộng sản Hy lạp và được thành lập từ năm 1924 , các người này
cũng bị lùng bắt và ám sát.
Các người cộng sản của nước Albanie cũng không bị bỏ sót. Sau khi đả
được thống nhất vào năm 1941, các nhóm tả huynh đả tụ tập chung
quanhAnastaste Loula, các nguồn bất đồng chính kiến đả diễn ra giữa các
người trốt-kít với các người chính thống ( Enver Hoxha, Memet Chehu )
được sự cố vấn của các người cộng sản Yougoslaves. Trong năm 1943,
Loula, đả bị hành quyết đơn giản. Sau nhiều cuộc toan tính mưu sát,
Sadik Premtag, và các người lãnh đạo trốt-kít khác được sự ủng hộ của
dân chúng đả trốn thoát qua nước Pháp ; tháng 5 năm 1951, ông là nạn
nhơn của một cuộc mưu sát khác do Djemal Chami tự ra tay, y là một cựu
chiến binh của trung đoàn quốc tế và là người của sứ quán Albanie
tại Pháp.
Bên Trung-Quốc, một phôi phai (embryon) của phong trào trốt kít được
thành lập vào năm 1928 dưới quyền của Chen Duxiu, một người sáng lập và
là thư ký của đảng cộng sản Trung-Quốc (viết tắt là PCC) và cùng với
các người khác thi hành chung lý tưởng cộng sản. Trong lúc xảy ra chiến
tranh với nước Nhựt, một phần các người trốt-kít đả gia nhập vào đội
ngũ của Bát lộ quân của Quân đội nhơn dân ( viết tắt là APL). Chính Mao
Trạch Đông đả ra lịnh hành quyết các người theo phong trào trốt-kít và
thanh toán các tiểu đoàn do các người trốt-kít chỉ huy.Sau khi cuộc nội
chiến chấm dứt các người trốt-kít đả bị săn đuổi và giết chết. Số phận
của những người này đến nay vẫn không được biết.
Ở Đông dương tình thế vào giai đoạn đầu lại khác. Các người
trốt-kít thuộc nhóm tranh đãu và các người cộng sản cùng có đường
lối chung, khởi đầu từ năm 1933. Ảnh hưởng của riêng nhóm trốt-kít ở về
phía Nam nói riêng là mạnh. Năm 1937, theo một chỉ thị của Jacque
Duclos cấm đảng cộng sản Đông dương tiếp tục cuộc hợp tác với các người
trốt-kítthuộc nhóm tranh đãu. Trong những tháng sau cuộc đầu hàng của
nước Nhật, một chi nhánh của nhóm trốt-kít '' Liên đoàn cộng-sản quốc
tế '' đả tạo được một ảnh hưởng khá đủ để làm các người lãnh đạo
cộng-sản lo ngại. Tháng 9 năm 1945, khi quân đội Anh đến Sài-gòn, Liên
đoàn cộng-sản quốc tế ( tên viết tắc là LCJ ) đã kích Mật trận Việt
minh ( mật trận dân chủ tranh đãu cho độc lập ) về việc đón tiếp ôn hòa
đối với quân đội Anh. Ngày 14 tháng 9, Việt minh mở cuộc tấn công rộng
lớn chống lại các cán bộ trốt-kít, nhưng những người này không trả đủa
lại. Bị bắt giam, và phần lớn đả bị giết sau đó. Các toán võ trang của
các người yêu nước trong số này có các người trốt-kít, sau khi đả chiến
đãu chống lại quân đội Anh, Pháp, họ đả rút vào Đồng Tháp Mười và bị
các toán võ trang của Việt-minh '' đè nát ''. Qua đến giai đoạn hai :
Việt minh quay trở lại chống các người trốt-kít, thuộc nhóm tranh đãu,
những người bị bắt giam ở gần Bến súc đả bị giết khi quân đội Pháp tiến
đến gần nơi đây. Bị bắt sau đó, ông Tạ Thu-Thâu, người lãnh đạo lịch sữ
của phong trào đả bị giết vào tháng 2 năm 1946 . Chính Hồ Chí Minh đả
viết : '' Các người trốt-kít là các người phản bội, và là các tên gián
điệp đê hèn ''.
Ở nước Tiệp-khắc ( Tchécoslavaquie ), định mệnh của Zavis Kalandra đả
tượng trưng riêng cho ông số phận của tất cả các đồng chí của ông. Năm
1936, Kalandra đả bị trục xuất ra khỏi đảng cộng-sản Tiệp ( PCT ), vì
ông đả viết một cuốn sách tố cáo các vụ xữ án ở Moscou. Tham gia vào
kháng chiến ông đả bị quân đội Đức bắt giam và đưa đi ở trại
Oranienbourg. Ông sống sót và khi chiến tranh chấm dứt, ông được hồi
hương. Tháng 11 năm 1949 ông bị bắt và bị buộc tội đả lãnh đạo một cuộc
âm mưu lật đổ nền cộng hòa. Ông đả bị tra tấn. Phiên tòa xữ ông được
diễn ra vào tháng 6 năm 1950 ; tại phiên tòa này, ông đả làm bản tự
kiễm thảo ( autocritique ). Ngày 8 tháng 6 năm 1950 ông bị tuyên án tữ
hình. Trong nhựt báo Trận chiến ( Le Combat ) số ra ngày 14 tháng 6 năm
1950, André Breton, đả nói với Paul Eluard can thiệp cho một người mà
cả hai đều biết từ trước chiến tranh. Eluard đả trả lời : '' Tôi làm đả
quá nhiều cho các người vô tội, các người vô tội này đả kêu gào sự vô
tội của mình và trước các người thủ phạm họ đả kêu gào sự phạm tội của
họ. Zavis Kalandra đả bị hành quyết ngày 27 tháng 6 cùng với 3 đồng chí
của ông.
Các người chống phát xít
và các người cách mạng ngoại quốc, nạn nhơn của các cuộc khủng bố ở
Liên bang Sô-viết
Tồ chức Komintern, với việc tàn sát các người trốt-kít cùng với các
người cộng-sản ly-khai không phải là việc duy nhứt mà tổ chức này đả
hành động. Vào các năm của thập niên 1930, ở trên lãnh thổ Liên
Bang Sô Viết có một số đông người ngoại quốc đả sinh sống ở đây dù họ
không phải là cộng-sản, nhưng đả bị lôi cuốn vào '' ảo ảnh sô-viết''.
Rất nhiều người ngoại quốc này đả trả giá quá cao về việc mất tự do và
thường bị mất mạng vì việc đam mê của họ đối với đất nước của người
sô-viết.
Vào đầu các năm 1930, các người sô-viết đả mở một cuộc tuyên truyền ở
trong vùngCarélie, vùng này nằm trong vùng cận biên giới Phần lan và
Liên bang Sô-viết, một sự tuyên truyền cho sự ''xây dựng chủ nghĩa xã
hội '' để lôi cuốn các người dân. Đả có 12000 người dân Phần lan cộng
thêm với 5000 người dân Phần lan sống trên đất Hoa-kỳ , phần đông là
hội viên (ở Hoa-kỳ) ; vì họ gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc khủng
hoảng kinh tế vào năm 1930 như thất nghiệp, không nhà ở v.v. . .''Cơn
sốt Carelie ''đả mạnh hơn khi các nhơn viên của tổ chức thương mãi
sô-viết tên là Amtorg đả hứa với họ là họ sẽ có việc làm với đòng lương
cao, nhà ở và các cuộc du lịch không tốn tiền từ New York về Léningrad.
Họ được nhắn nhũ là hảy đem tất cả những gỉ họ có.
Cuộc '' đua nhau đi về ảo tưởng ''(ruée vers l'utopie), theo định nghỉa
của Ains Küsinen, đả biến thành cơn ác mộng. Khi họ đi đến nơi, các máy
móc công nghệ của họ cùng với các tài sản, các tiền để tiết kiệm của
các người dân di cư này đều bị tịch thu ( việc như vậy đả tái diễn đối
với các Việt kiều từ Thái lan và Tân Calédonie, hồi hương về miền Bắc
vào các năm đầu của thập niên 1960 ). Các giấy thông hành của họ đều bị
giử lại và họ bị đưa về cácvùng kém mở mang và bị giữ lại như các người
tù sống ở các vùng mà chung quanh toàn là rừng và các điều kiện sinh
sống rất là cực khổ ( lời người dịch : hình thức Kinh Tế Mới mà Cộng
sản Việt nam đả áp dụng cho dân tộc Việt nam sau 30 tháng 4 năm 1975 ).
Theo sự nhận định của Arvo Tuominen người lãnh đạo đảng cộng sản Phần
Lan và được bầu vào thành viên dự khuyết của chủ tịch đoàn ũy ban hành
pháp của tổ chức Komintern cho đến cuối năm 1939, sau bị kết án tữ hình
và y đả xin xét lại án, còn giảm xuống 10 năm tù giam ; hơn nửa đả có
trên hai chục ngàn người dân Phần Lan đả bị giam cầm trong các trại tập
trung.
Bị cưởng bách phải sống ở vùng Kirovakan, Aino Kuusinen đả chứng kiến
sau đệ nhị thế chiến, lúc các người Amnien, nạn nhơn của các cuộc tuyên
truyền khéo léo của các cơ quan tuyên truyền sô-viết , các người này đả
chấp nhận đến định cư ở cộng hòa sô-viết Aménie. Đáp lời kêu gọi của
Staline, kêu gọi các người dân gốc Nga đang sống ở ngoại quốc hảy trở
về Liên Bang Sô-viết . Các người Aménien, dù là họ đả di cư sống trên
đất của Turquie, họ được động viên để trở về vùng đất của cộng hòa
Arménie mà trong trí tưởng tượng của họ là vùng đất của tổ tiên của họ.
Tháng 9 năm 1947, nhiều ngàn người đả tụ họp ở Marseille và chiếc tàu
Rossia đả chở 3500 người về Liên Bang Sô-viết. Khi ấy đả có nhiều người
hiểu ngày này là một chiếc bẩy ghê tởm ( piège odieux ) đả khép chặt
vào họ và khi chiếc tàu này đả đi vào hải phận Nga, thái độ của các
người cầm quyền sô-viết thay đổi hoàn toàn. Vào năm 1948, hai trăm
người Arménien đả biểu tình ở thủ đô Erevan khi vị ngoại trưởng Pháp
tên Christian Pineau thăm viếng nơi đây. Chỉ có 60 gia đình được phép
đi khỏi lãnh thổ Liên Bang Sô-viết ; trong khi ấycuộc đàn áp đả diễn ra
vào những người còn bị ở lại.
Cuộc khủng hoảng không những áp đặt lên các người tự nguyện đến Liên
bang Sô-viết mà luôn cả các người đả phải đến đây để tìm chổ '' dung
thân'' vì bị cưởng bách bởi các chế độ độc tài tại đất nước của họ.
Theo điều 129 của bản hiến pháp Sô-viết : '' Liên Bang Sô-viết ban cho
quyền ' ẩn náo ' ( droit d'asile ) cho tất cả các người công dân ngoại
quốc đả bị truy tố vì đả bảo vệ quyền lợi của các công nhơn, hay là vì
các hoạt động của họ về lĩnh vực khoa học, hoặc vì do cuộc đãu tranh
của họ cho nền độc lập quốc-gia ''. Trong cuốn tiểu thuyết của Vassili
Grossman tựa đề là : '' Cuộc sống và định mệnh '', ông đả đưa ra một
hài kịch về sự ''đối đầu ''giữa một quân nhơn SS của Hitler và một
người đãu tranh bôn sê-vít là tù nhơn của tên lính SS. Trong một cuộc
độc thoại ( monologue ) dài, tên lính SS đả phát biểu một bản án của
định mệnh cho hàng chục ngàn người gồm đàn ông, đàn bà, lão ông, lão bà
và các thiếu nhi họ đả đến Liên Bang Sô-Viết để tìm chổ ''trú ẩn'' ; và
sau đây là bản án :'' Ai đả ở trong các trại trong thời gian hòa bình,
khi không có các tù nhơn vì chiến tranh. Tại các trại này người ta đả
gặp các người được gọi là kẽ thù của đảng, kẽ thù của nhơn dân. Đây là
một loại mà anh được biết rỏ, đó là các người trong trại của anh. Và
nếu trong thời gian hòa bình, các trại của anh nằm trong chế độ SS,
chúng tôi sẽ không để các tù nhơn này ra đi. Các người tù nhơn của các
anh là các người tù nhơn của chúng tôi''.
Dù họ từ ngoại quốc đến theo lời kêu gọi của chính phủ của các người
Sô-Viết , hay là họ tìm nơi an toàn mà họ đả không tìm được ở đất nước
của họ vì các việc tham gia vào chính trị, tất cả các người di cư này
vẫn bị coi là có thể trở thành một lực lượng gián điệp ( potentiels
espions) Đó là lý do thường được ghi trên các bản xữ án.
Một trong những cuộc di cư quá sớm của các người chống phát xít gốc
Italie, diễn ra vào các năm giữa thập niên 1920. Một số trong những
người này họ tưởng rằng đả tìm thấy '' xứ sở của xã-hội chủ-nghĩa
xã-hội '' là nơi ẩn náo các giấc mộng của họ. Họ đả bị thất vọng chua
cay, và họ đả bị khũng bố. Các người cộng-sản Italie và các người cảm
tình của Liên Bang Sô-Viết vào giữa các năm của thập niên 1930, lên đến
khoảng 600 người :'' .. khoảng 250 người là cán bộ chính trị di cư và
350 người là các học viêntheo học trong 3 trường đào tạo về chính trị.
Rất nhiều học viên này đả rời Liên Bang Sô-Viết sau khi đả thụ huấn
xong và 100 người đãu tranh đả tham gia chiến đãu ở Espagne trong cuộc
nội chiến 1936-1937, cuộc đại khũng bố đả giáng xuống các người còn ở
lại. Khoảng 200 người Italie đả bị bắt giam và bị khép vào tội '' làm
gián điệp '' ; khoảng 40 người đả bị xữ bắn và người ta biết rõ lý lịch
của các người này ; các người khác bị gởi đi các Goulog hoặc là các mõ
khai thác vàng ở Kolyma hay ở vùng Kazahstan. Romols Caccavale đả viết
một quyễn sách rất cảm động, đả kễ lại hành trình và định mệnh thê thãm
của cả chục người đãu tranh. Một ví dụ tronh các ví dụ : Nazareno
Scarioli, một người chống Phát-xít đả trốn ra khỏi nước Italie vào năm
1923, và từ đó anh đả đi Berlin rồi qua Moscou. Được phân bộ của Cứu tế
đỏ - secours rouge đón tiếp, anh kiếm được việc làm ở một tổ hợp canh
nông ở vùng Moscou trong vòng một năm. Sau anh được thuyên chuyễn đi
Yalta và làm việc trong một tổ hợp có 20 người Italie thuộc nhóm vô
chính phủ dưới sự hướng dẫn của Tito Scarselli. Đến năm 1933 tổ hợp này
bị giải tán, anh Scarioli trở về Moscou và tìm được việc làm ở trong
một xưởng sản xuất bánh biscuit. Anh đả tham gia các hoạt động của cộng
đòng người Italie , ..Ròi đến các năm xãy ra cuộc đại thanh trừng (a
grande Purge) ; sự sợ hải và sự khũng bố đả làm tan rã cộng đòng người
Italie ; mỗi người đều có sự nghi ngờ đối với các đòng hương
(compariote). Người cộng sản chịu trách nhiệm tên Paolo Robotti đả
thông báo cho câu lạc bộ việc bắt giam 36 người di cư bị coi là ''kẽ
thù'' của nhơn dân, các người này làm việc trong một xưỡng chế tạo ổ bi
(roulements à billes). Robotti đả bắt buộc cữ tọa phải chấp nhận việc
này đối với các người thợ mà y đả biết rõ. Lúc dơ tay lên để tán thành,
Scarioli đả không đòng ý. Ngày hôm sau anh đả bị bắt giam. Ở trong nhà
tù Lioubianca y đả bị tra tấn và đả ký một bản thú tội. Bị đưa đi đày ở
Kolyma, anh ta đả làm việc trong mỏ khai thác vàng. Nhiều người Italie
khác củng đồng chung một số phận như anh và có nhiều người đả chết.
''.. nhà điêu khắc Arnoldo Silva, kỹ sư Cerquetti, người lãnh đạo
cộng-sản Aldo Gorellimà người em gái là vợ của .. về sau này là dân
biểu công sản Siloto, cựu thư ký chi bộ cộng sản thành phố Rome, tên là
Vincenzo Bazala ; người ở Toseau tên Otello Gaggi đang làm người gác
cửa ở Moscou ; người thành viên nghiệp đoàn ở Venise tên Carlo Costa
làm thợ ở Odessa và Edmundo Peluzo đả từng quen biết Lenine khi ông này
còn ở Zurich. Năm 1950 Scarioli, lúc ấy chỉ còn 36 kilo được phép rời
khỏi Kolyma nhưng vẫn còn là người nô lệ của chế độ Sô-Viết , bị bắt
buộc làm việc ở Sibérie. Chỉ đến năm 1954 anh mới được ân xá và phục
hồi danh dự, và anh phải đợi hơn 6 năm nữa mới được cấp chiếu kháng để
trở về Italie với một hưu bổng nhỏ nhoi.
Tất cả các người tị nạn không phải là người cộng sản hay là các cãm
tình viên, cùng với các người vô chính phủ , họ bị tìm bắt và đả chọn
Liên-bang Sô-viết làm nơi tị nạn. Trường hợp mà nhiều người biết đến là
của Francesco Gezzi, một người thuộc nghiệp đoàn tự do, anh đả đến Nga
vào năm 1921, để đại diện cho Liên hiệp Nghiệp đoàn Italie bên cạnh tổ
chức Nghiệp đoàn Quốc tế đỏ. Năm 1922, anh đả đi sang nước Đức và chính
phủ Italie đả xin trục xuất anh vì tội khũng bố. Một cuộc vận động dư
luận của dân chúng đả giúp anh tránh khỏi phải nếm mùi của nhà tù
Italie nhưng anh phải bắt buộc trở lại nước Nga, vào mùa Thu năm
1924, vì đả dính líu với Pièrre Pascal và Nicolas Lazarévitch khiến anh
đả có lôi thôi với cơ quan Guépou. Năm 1929 anh đả bị bắt giam và bị
kết án 3 năm tù giam tại khám đường ở Souzdal, trong nhà ngục dành cho
các tội đại hình mặc dầu anh đả bị bịnh ho lao ! Các bạn của anh và
người thông tin đả tổ chức một cuộc vận động dư luận để giúp anh tại
Pháp và Thụy sĩ. Trong lúc ban đầu Romain Rolland và các người khác đả
gởi một bản thỉnh nguyện thư, chính quyền sô-viết liền tung ra tin đòn
anh là một người gián điệp của một '' tòa đại sứ phát xít ''. Được trả
tự do vào năm 1931, anh Gezzi đi làm công nhơn cho một xưởng máy, sang
đến năm 1937 anh lại bị bắt lại. Lần này các người bạn của anh ở ngoại
quốc không thể nào biết được tin tức và số phận của anh. Anh đả bị coi
như bị giết chết vào cuối tháng 8 năm 1941 ở Vorkouta.
Vào ngày 11 tháng 2 năm 1934 ở Linz, các người trách nhiệm của
Schutzbund, liên minh ( ligue) để bảo vệ chế độ cộng hòa của đảng
xã-hội Áo-Autriche, đả quyết định chống lại mọi cuộc tấn công của
Heimwehren. Vệ binh ái quốc, nhằm cấm đảng xã-hội hoạt đông, có ai có
thể tưởng tượng được số phận của các đồng bạn của họ.
Việc gây sự của các vệ binh ái quốc Heimwehren ở Linz đả buộc các
người xã-hội dân chủ phát động một cuộc tổng đình công rồi đưa đến một
cuộc dấy loạn. Lãnh tụ Dollfus của đảng Thiên chúa xã-hội và đòng thời
là chưỡng ấn ( chancelier ) hay là Thủ tướng ở Áo và Đức, sau 4 ngày
chiến đãu đẫm máu đả nắm lại được tình thế, các người xã-hội người nào
chạy thoát không bị vào các khám đường hay các trại tập trung thì đả
troỏ thành hoạt ddộng bí mật hay trốn qua nước Tiệp khắc và sau đó tiếp
tục đi chiến đãu ở Espagne trong cuộc nội chiến. Một số người đả quyết
định tị nạn ở Liên bang sô-viết và bị lôi cuốn bởi một cuộc tuyên
truyền liên tục, từ đó khiến họ đả chống lại các người lảnh đạo xã hội
dân chủ. Ngày 23 tháng 4 năm 1934, ba trăm người đả đến đất Nga và liên
tục kéo thêm một số người nửa cho đế tháng 12 năm 1934. Tòa đại sứ Đức
quốc đả biết được con số là 807 người Schutzbündler đả di cư qua Liên
bang sô-viết cùng với gia đình đả lên đến gần 1400 người đýu xin tị nạn
tại Liên bang sô-viết.
Đoàn người đầu tiên đến Moscou đả được các người có trách nhiệm
của đảng cộng sản Áo ( PKO ) đón tiếp và các người chiến sĩ này đả tuần
hành trên đường phố ở Moscou. Họ được Ũy ban trung ương các nghiệp đoàn
đãm nhiệm việc ăn ở . Một trăm hai chục các em thiếu nhi mà người cha
đả chết hay bị kết án tữ hình được gởi đi Crimée, sau được đưa về nhà
số 6, cho các trẻ em được thành lập riêng cho các em.
Sau vài tuần lễ nghỉ-ngơi, các người thợ được phân-phối đi làm ở các
công-xưỡng tại Moscou ; Kharkov, Leningrad, Gorki hay Rostov. Chẳng bao
lâu họ bị thất-vọng ( déchanter ) về các điều-kiện sinh-sống mà họ đả
phải bị cưởng-bách chịu đựng, các người cộng-sản Áo phải can-thiệp.
Chính-quyền làm áp lực với họ để họ phải xin vào quốc-tịch sô-viết. Ba
trăm người trong số người làm việc này đả xin vào quốc-tịch sô-viết.
Ngược lại, nhiều nhóm người toàn-diện đả liên-lạc với tòa đại-sứ Áo với
hy-vọng là sẽ được hồi-hương về Áo. Theo tin-tức của tòa Đại-sứ Đức
quốcthì có một số là 400 người đả được trở về nước họ cho đến mùa xuân
1938. ( Sau biến cố Anschluss vào tháng 3 năm 1938, người dân Áo trở
thành thuộc dân ( sujet ) của Reich Đức. Một trăm sáu chục người còn ở
lại nước Nga đả đi qua nước Espagne để tham-gia vào cuộc nội-chiến
trong hàng-ngũ cộng-hòa.
Rất nhiều người đả không có cái mai-mắn để rời khỏi Liên-bang Sô-viết.
Người ta đả được biết con số 278 người Áo đả bị bắt giam trong khoảng
thời-gian từ năm 1934 cho đế năm 1938. Vào năm 1938, Karls Stajner đả
gặp ở Norilsk một người dân của thành phố Vienna tên là Fritz
Koppensteiner và từ đó về sau không còn ai biết đến tin-tức của người
này nữa. Có người bị hành-quyết như Gustl Deutch, đả từng chiến đãu ở
quận Floridsdorf và cựu chỉ-huy trung-đoàn '' Karl-Marx '' mà các người
Sô-viết đả cho xuất-bản một cuốn sách : Các trận đánh ở Floridsdorf (
sách xuất bản năm 1934 ). Còn về số phận của nhà trẻ em số 6 cũng không
được chừa ra. Mùa Thu năm 1936, việc bắt giam các người hay cha mẹ còn
sống-sót, đả bắt đầu diễn ra. Các người con của họ được đưa qua sống
dưới quyền kiễm-soát của cơ-quan NKVD, và cơ quan này phân-phối các trẻ
em đi các viện cô-nhi. Ba Mẹ của cậu Wolfgang Leonhart đả bị bắt giam
và biệt-tích vào tháng 10 năm 1936, mãi đến mùa Hè năm 1937, cậu này
mới nhận được một bưu-thiếp từ cộng-hòa Komis của Mẹ cậu gởi cho cậu.
Bà này đả bị kết-án 5 năm giam ở trại vì các '' hoạt-động phản
cách-mạng trốt-kít ''.
Cuộc phiêu-lưu bi thãm của
gia-đình Sladek
Tờ báo xã-hội Arberter Zeitung số ra ngày 10 tháng 2 năm 1963 đả đăng
truyện của gia-đình Sladek. Vảo trung tuần tháng 9 năm 1934, bà Sladek
cùng với 2 người con đả đi Kharkov để gặp lại người chồng là Josef
Sladek, một cựu Schutzbündler là một nhơn-viên hỏa-xa ở Semmering sang
Liên-Bang Sô-Viết xin tị nạn. Bắt đầu từ năm 1937, cơ-quan NKVD khởi sự
các cuộc bắt giam trong cộng-đòng các người dân Áo ở Kharkov, rồi sau
đó đến Moscou và Léningrad. đến lượt Josef Sladek bị bắt giam ngày 15
tháng 2 năm 1938. Đến năm 1941 trước khi quân đội Đức xâm lăng vào nước
Nga, bà Slaked đả đến sứ-quán Đức quốc để xin được hồi-hương. Ngày 26
tháng 7, cơ quan NKVD đả bắt giam bà và người con trai lúc ấy đả được
16 tuổi còn đùa con trai 8 tuổi tên Victor thì được gởi đi vào một trại
cô-nhi thuộc cơ-quan NKVD. Các nhơn-viên NKVD đả đánh đăp Alfred và để
khũng bố tinh-thần cậu này đả nói là mẹ của cậu đả bị xữ bắn hầu đạt
được một bản cung khai thú tội. Họ được di-tản vì cuộc tiến-công của
quân đội Đức-Quốc-Xã, và một sự tình cờ hai mẹ con đả gặp lại nhau ở
trại Ivdel trong vùng Dural. Bà Sladek đả bị kết án 5 năm giam ở trại
vì tội làm gián-diệp và Alfred củng bị kết án 10 năm tù giam vì
tội làm gián-điệp và khuấy rối chống lại Sô-viết. Được chuyễn qua trại
Ở Sarma, họ đả gặp lại Josef Sladek đả bị kết án 5 năm tù giam lúc còn
ở Kharkov. Và chả bao lâu, họ lại bị chia rẽ. Ủüợc phóng thích vào năm
1946, bà Sladek đả bị cưởng bách cư-trú tại Solikansk ở trong vùng
Dural và một năm sau chồng của bà đả được phép đến ở cùng bà. Ông này
đả bị bịnh ho lao và tim suy nên không thể làm việc được. Ông phải ''đi
ăn xin'' để sông và đả chết ngày ngày 31 tháng 5 năm 1948. Đến năm 1951
Alferd được phóng thích và gặp lại mẹ của cậu. Đến năm 1954, sau nhiều
lần chạy-chọt ( démarche ) khó-khăn, cả hai mẹ con mới trở về được
Simmening-Áo-quốc. Hai mẹ con đả gặp lại cậu Victor một lần vào 7
năm về trước. Các tin-tức cuối-cùng mà họ nhận được về cậu Victor là
vào năm 1946.
Vào năm 1917, các người
Yougoslave sống ở Nga là 2600 và họ lựa chọn ở lại đây và sang đến năm
1924 con số các người này đả lên đến 3750 người. Họ được tăng thêm một
số người đồng-hương di-cư sang từ Canada và Mỹ-quốc đả theo lời kêu gọi
của cơ-quan tuyên-truyền Sô-viết, lần này lại di-cư sang Liên-Bang
Sô-Viết với tất cả dụng-cụ nghề-nghiệp '' để xây-dựng chủ-nghĩa
xã-hội ''. Cộng đồng người Yougoslave đả ở rải-rác khắp vùng đất
từ Léninsk ở Magnitsgorsk và đi qua vùng Saratov. Một số người lối từ
50 đến 100 người đả tham-gia vaò việc xây-dưng đường hầm cho xe métro ở
Moscou. Giông như các sắc dân khác, các người công nhơn Yougoslave củng
bị đàn-áp. Anh Bozidor đả nói là '' anh đả chịu một số phận tàn-ác và
thêm vào : '' phần lớn các người công-nhơn đồng-hương với anh đả bị bắt
giam vào các năm 1937-1938 và số phận họ đả không biết ra sao ..? Một
sự nhận định chủ-quan ( subjective ) đả được nuôi dưỡng bởi việc đả có
nhiều trăm người di-cư đả '' biến mất ''. Đến ngày hôm nay chưa có được
các con số chính-xác liên-quan đến các người Yougoslave lao-động ở
Liên-Bang Sô-viết và riêng về các người đả lao đông ở đường hầm xe
métro ở Moscou vì họ đả phản-đối các việc làm quá cực nhọc và họ bị
đàn-áp quá cứng-rắn ( durement réprimés ).
Cuối năm 1939, cuộc phân chia nước Ba-lan bị chiếm đóng, đả diễn ra
giửa nước Đức Quốc-Xã và nước Nga Sô-Viết đả được bí-mật thỏa-thuận
trước vào ngày 23 tháng 8 năm 1939, đả trở nên thực-thụ. Hai nước
Xâm-lăng này đả phối-hợp hành động của hai bên để thực-hiện việc
kiễm-soát tình-hình và dân chúng. : Hai cơ-quan Gestapo và NKVD hợp-tác
với nhau. Cộng-đồng người Do-Thái củng bị phân chia : Trên số 3.300.000
người thì có 2.000.000 người sống ở những vùng quân Đức chiếm đóng và
1.300.000 người sống ở vùng Hồng-quân. Các vụ ngược-đải người gốc
Do-thái xảy ra liên-tục, các giáo-đường bị đót cháy, các vụ tàn-sát
diễn ra ; tiếp-theo liên-tục là việc giam-nhốt vào các khu-vực dành
riêng cho người gốc Do-thái ( ghetto ). Khu-vực Ghetto ở Lodz được
thành lập ngày 30 tháng 4 năm 1940 và khu vực Varsovie tổ-chức vào
tháng 10 và đóng cửa ngày 15 tháng 11 năm 1940.
Trước sự tiến-quân của Đức-Quốc-Xã đả có nhiều dân Ba-Langốc Do-Thái
chạy trốn về hướng Đông. Trong mùa Đông 1939-1940, quân đội Đức-Quốc-Xã
đã không tìm cách ngăn cản việc vượt-biên mới. : '' đó là các lính
biên-phòng Sô-Viết với '' huyền-thoại'' giai-cấp, họ trang-phục với các
áo choàng bằng lông và đội nón kết ( casquette )súng có gài lưởi-lê (
baissnnette ) , đả đón các người du-mục đi về miền đất hứa này, với con
mắt chó săn của cảnh-sát cùng với các tràng đạn súng tiểu-liên. Từ
tháng 12 năm 1939 đến tháng 3 năm 1940 các người Do-thái này sông ở
trong một vùng mà người ta gọi là '' vùng không có người ở ''-( no
man'sland ), rộng từ 1000 đến 1500 thước dài theo con sông Bug, ở về
hướng Đông và họ đả phải ngũ ngoài trời. Một phần lớn các người này
đành phải trở về vùng quân-đội Đức-Quốc-Xã chiếm đóng.
Một người lính của đạo-quân do tướng Anders tên L.C số-quân 15015 đả là
nhơn chứng và đả tiết-lộ về tình-cảnh không thể tưởng-tượng được : Vùng
đất này có diện-tích lối 600 mét và 700 mét và tại đây đả có từ 700 đến
800 người tụ họp từ vài tuần lễ ; 90 phần trăm là người gốc Do-Thái họ
đả vượt thoát được sự kiễm-soát của người Đức. Vì bị ướt do các cơn mưa
của mùa Thu, không nơi trú-ẩn chúng tôi tất cả đều đau ốm. Chúng tôi đả
ôm lấy nhau để cho đở lạnh, các người Sô-viết '' nhơn đạo '' không đoái
hoài gì đến chúng tôi và không hề cho chúng tôi một mẫu bánh mì hay một
ít nước nóng. Họ cũng cấm các người nông dân ở trong vùng này, đến gần
chúng tôi vì các người nông dân này xót thương chúng tôi ; họ muốn làm
một '' cái gì '' để chúng tôi còn được sống còn. Kết quả chúng tôi để
lại một '' số mã '' trên khoảng đất này. Tôi quả-quyết là các người đả
trở về vùng của Đức-Quốc-Xã chiếm đóng là họ có lý, vì cơ-quan NKVD (
với một cái nhìn không ở một khía cạnh nào ) đả giỏi hơn cơ quan
Gestapo vì cơ-quan này đả thâu ngắn thời-gian dể giết người. Ngược lại
cơ-quan NKVD giết người và tra-tấn một cách còn ác-độc hơn cái chết và
đưa đến việc là người nào thoát khỏi nanh-vuốt của cơ-quan này là một
phép lạ ; nhưng nếu còn sống-sót thì đều trở -thành phế nhơn. Được
tượng-trưng Israẽl Joshua Singer đả đặt người '' anh-hùng '' của ông,
trở nên '' một kẻ thù của nhơn-dân '' và đả chết ở tại vùng đất ''
không người ở '' ( no man'sland ) này khi tìm cách trốn khỏi Lãnh-thổ
Liên-Bang Sô-Viết. Vào tháng 3 năm 1940, nhiều trăm ngàn người tị-nạn,
có một người nào đó đả nói ra con số là sáu trăm ngàn người, đả bị
bắt-buộc phải nhận một giấy thông-hành của Sô-viết. Các thỏa-hiệp
Đức-Nga đả dự-phòng việc trao-đổi các người tị-nạn. Các gia-đình bị
ly-tán, sự thiếu-hụtlương thực công với các việc khủng bố của cơ quan
NKVD, càng ngày càng nặng nề hơn ; một số người đả quyết-định trở về
vùng người Đức chiếm đóng của nước Ba-Lan. Ông Jules Margo line, vào
mùa Xuân năm 1940, đả hiện diện tại tỉnh LVDV thuộc vùng phía Tây
Ukraine đả nói : ''-Các người gốc Do-Thái thích các khu-vực Ghetto của
Đức hơn sự '' bình-đẳng của So-Viết ''. Họ tưởng-tượng là có thể rời
khỏi vùng cai-trị của chính-quyền Đức-Quốc-Xã được dể-dàng hơn là
trốn-tránh qua ngã của Liên-Bang Sô-Viết để đến một nước Trung-Lăp.
Đầu năm 1940, việc đưa đi lưu đày các người công-nhân Ba-Lan khởi đầu (
xin tham-khảo các đóng góp của Andrzej Packowski ) và tiếp-tục đến
tháng sáu. Tất cả các người dân Ba-Lan của mọi khuynh-hướng tôn-giáo
đều bị đưa lên vùng Bắc bao-la và vùng Kazakhstan bằng các đoản xe-hỏa.
Đoàn xe của Jules Margolin phải chạy 10 ngày mới đến vùng Mourmansk. Là
một nhà quan-sát tỉ-mĩ kỹ-lưởng về '' xã-hội tập-trung '' Ông đả viết :
'' Việc khác-biệt với các trại Sô-viết ở tất cảb mọi nơi giam-cầm trên
thế-giới, đó không phải riêng về tầm rộng bao-la, không-thể tưởng-tượng
được cùng các điều-kiện sinh-sống chết người. Đó là nhu-cầu '' nói láo
'' không ngừng để tự bảo-vệ lấy sự sống còn của mình, nói láo
luôn-luôn, đeo một cái '' mặt nạ '' ( masque ) trong nhiều năm và không
bao giờ có thể nói ra các tư-tưởng của mình. Vì vậy việc nói láo và
việc tự giấu-diếm hay giả-vờ đả trở-thành cách thức duy nhất để tự
bảo-vệ. Các cuộc mít-ting, các cuộc gặp-gở, các tờ báo dán ở trên các
bức tường đều dùng các câu chính-thức êm-dịu và không một câu nào về
sự-thật. Tại nước Nga Sô-viết, người công-nhân '' tự-do '' củbng bị
bắt-buộc phải nói láo. Con người ở phương Tây khó có thể hiểu được
ý-nghĩa của sự cấm-đoán các quyền và trong hoàn cảnh không thể được.
Trong 5 hay 10 năm, có thể nói ra tự do, cho đến '' tận cùng '' (
jusqu'au bout ) của sự bắt buộc phải đè nén các tư-tưởng '' bất
hợp-pháp '' ( pensée illégale ) và phải câm như nằm ở trong một cái mã
( tombe ). Dưới sức ép không thể tưởng-tượng được, tất cả đều bị
biến-dạng, méo-mó và làm tan-rã thể-chất của con người.
Cái chết của các người tù nhơn số 41 và 42
Là thành-viên của văn-phòng Công-nhơn Xã-hội Quốc-tế, Victor Alter sanh
năm 1890, là Thẫm-phán phó thị-xã trưởng ở Varsovie ; ông đả từng giữ
chức chũ-tịch của Liên-đoàn các nghiệp-đoàn Do-thái. Ông Henryk Erlich
là nhơn viên của hội-đòng xã ở Varsovie và là chủ-nhiệm của nhật-báo
tiếng Yçish Folkstaytung. Cả hai dều là đảng viên của đảng Xã-hội
Do-thái của Ba-lan. Tên đảng gọi là Bund. Năm 1939 họ dều tị-nạn qua
vùng Hòng-quân Sô-viết chiếm đóng. Alter bị bắt giam vào ngày 26 tháng
9 tại Kowel, còn về phần Erlich đả bị bắt giam vào ngày ngày 4 tháng 10
tại Brest_Litovsk. Được giải về nhà giam Loubianha ở Moscou, ông alter
đả bị kết án tữ-hình ngày 20 tháng 7 năm 1941 với tội danh là đả có các
hoạt-động '' chống Sô-viết '' ( ông đả bị tố-cáo là đả điều-khiển các
hành-động bất hợp-pháp của đảng Bund ở Liên-Bang Sô-viết và đả
liên-lạcvới an-ninh Ba-lan. Bản án này đả do tập đoàn quân-sự của
Tòa-án tối-cao của Liên-bang Sô-viết tuyên-án và sau khi xét lại ông bị
án 10 năm giam-cầm ở các trại tập-trung. Ngày 2 tháng 8, Erlich bị
tòa-án quân sự của các lực-lượng võ-trang của cơ-quan NKVD ở Saratov
tuyên-án tữ-hình ; ngày 27 tháng 8, án này được giãm xuống còn 10 năm
giam-cầm ở các trại tập trung. Được phóng-thích vào tháng 9 năm 1941
theo thỏa-ước của Sikorski-Maĩski , Alter và Erlich đả được Béria đòi
đến trình-diện, và đề-nghị hai người này cổ-võ cho Ũy-ban Do-thái chống
lại các người Quốc-xã ( nazis ) và hai người này đồng chấp-thuận. Trước
sự tiến quân của Đức, hai người này rút lui về Kouibychev và lại bị bắt
giam trở lại vào ngày 4 tháng 12 và bị buộc tội đả liên-lạc với các
người Nazi !
Béria ra lịnh giam họ dưới bí số 41 ( Alter ) và 42 ( Erlich ) và không
ai được biết căn-cước của hai người này. Ngày 23 tháng 12 năm 1941, hai
người này bị coi như là công dân Sô-viết, họ bị kết-án tử-hình vì đả
phạm-tội phản bội. Trong những tuần lể sau đó, họ đả gởi nhiều đơn xin
lên các người có quyền, nhưng vô hiệu quả và hai người này củng không
được biết là mình đả bị án xữ-tử . Ngày 15 tháng 5 năm 1942, Erlich đả
tự treo cổ mình lên các cây song-sắt ở trong xà-lim nhà giam. Đến khi
mở hồ-sơ của ông, người ta vẫn tưởng là ông bị hành-quyết.
Victor Alter đe doa sẽ tự-sát. Bérin ra lịnh tăng cường việc kiễm-soát.
Victor Alter đả bị hành-quyết ngày 17 tháng 2 năm 1943. Bản án ngày 23
tháng 12 năm 1941đả được Staline đích thân duyệt-y . Đáng chú ý là việc
hành-quyết ông này đả diễn ra vào một thời-gian ngắn sau cuộc thắng
trận ở Stalingrad. Cộng thêm với việc ám-sát ông Victor-Alter còn thêm
sự vu-khống : Alter và Erlich đả tuyên-truyền cho việc ký-kết một
hòa-ước với nước Đức-Quốc-Xã.
( Tài liệu trích từ văn-khố của cơ-quan NKVD đăng trên nguyệt-san East
European - Jewish Affairs số 2 - mùa Đông năm 1992 )
Vào mùa Đông 1945-1946, bác-sĩ Jacques Pat, thư ký của Ũy-ban các
công-nhơn gốc Do-thái ở Mỹ quốc đả nhận nhiệm-vụ đi sang nước
Ba-lan để mở một cuộc điều-tra về các tội-ác của các người Nazi. Khi
trở về Mỹ, ông đả cho đăng một loạt bài trên tờ báo Jewish Daily
Forward viết về số phận các người Do-thái tị-nạn ở Liên-bang Sô-viết.
Ông đả ước-lượng là đả có 400 000 người đả chết vì bị đưa đi lưu-đày, ở
trong các trại cưởng bách lao-động hay là ở các tổ lao-động. Vào lúc
chiến-tranh chấm dứt, 150 000 người này khi đả được đi vưoọt qua khỏi
biên-giới Ba-lan _ Sô-viết không bao giờ nói đến nửa tổ-quốc
Xã-hội Chủ-nghĩa Liên-bang Sô-viết, chế-độ độc-tài và dân-chủ nơi này.
Đối với họ các cuộc tranh-luận đả chấm dứt và câu nói chót của họ : ''
là chạy trốn khỏi nơi này '', Bác-sĩ Jacques Pat đả hỏi hàng trăm người
này.
Các người tù-binh Sô-viết
bị cưởng-bách trở về nước
Nếu ai có liên-lạc với người nước ngoài, hay là vì
nhu-cầu gì cần phải liên-lạc với các người của nước ngoài hay là một ai
từ nước ngoài đến URSS là trở thành một người đến chế độ. Bị bắt làm
tù-binh và đả sống 4 năm khỏi lãnh thổ quốc-gia đả khiến cho các người
quân-nhân Nga bị lính Đức bắt làm tù-binh lại trở-thành một con
người đáng chịu một hình phạt. Đạo luật số 270 của năm 1942 đả
thay đổi điều 193 củ bộ hình-luật, được coi là một người tù-binh bị
quân-thù bắt được là ( ipro facto ) là một người phản-bội. Không đếm
xỉa gì đến hoàn-cảnh bị bắt và việc bị giam-cầm đả diểnra, việc bị
giam-cầm đối với các tù-binh Nga thật là đáng ghê-sợ. Các người Slaves
bị coi là hạng người thấp kém ( sous-homme ) và số phận của họ đả được
quyết-định là họ sẽ phải '' biến-mất '' ( disparaître ) theo như
Weltans Chaung của chủ-nghĩa quốc-xã_Nazi_ vì vậy trong số 5.700.000
tù-binh Nga bị bắt vì chiến-tranh, đả có 3.300.000 người đả chết vì bị
ngược đải và chết đói, cùng với các chứng bịnh mà không được săn-sóc.
Vì vậy theo lời yêu-cầu rất sớm của các đồng-minh, mà Staline đả
quyết-định cho hồi-hương tất cảcác người Nga đang ở trên các phần đất ở
về phía Tây. Các nước đồng-minh rất lấy làm bối-rối về vấn đề nuôi ăn
số quá đông tù-binh Nga bị quân đội Đức Wehmacht bắt. Việc này được
giải-quyết rất mau. Cuối tháng 10 năm 1944 cho đến tháng Giêng năm 1945
đả có 332.000 tù binh người Nga ( trong số này có 1.179 người từ San
Francisco ) đả được đưa trả trở về dù chưa có sự chấp thuậ của URSS.
Không những các nhà ngoại-giao Anh và Mỹ đả vô-tình ( aucun état d'âme
) mà đề cập đến vấn đề này với một lượng tính vô liêm-sĩ mà họ không
biết, như ngoại-trưởng Anthony Eden đả nói phải dùng đến sức mạnh để
giải-quyết vấn đề này.
Trong lúc diễn ra các cuộc thương-nghị ở Yalta từ ngày 5 đến 12 tháng 2
năm 1945, cả ba thủ-lãnh ( Sô-viết-Anh-Mỹ ) đả ký-kết các thỏa-ước
bí-mật bao gồm các quân nhơn cùng các người thường dân đả bị di-chuyễn
vì chiến-tranh.Churchill và Eden đả chấp-nhận để Staline quyết-định số
phận các người tù-binh đả chịu gia-nhập và chiến đãu trong hàng-ngủ của
đạo quân Nga giải-phóng ROA do tướng Vlassov chỉ-huy và mong là các
người này sẽ được hưởng một sự xữ-án công-bằng và được bảo-đảm.
Staline biết rỏ là một phần các người bị bắt làm tù-binh là do sự
rối-loạn về tổ-chức trong lúc mới xãy ra chiến-tranh, xảy ra trong lúc
các đội-ngũ của Hòng-quân mà Staline là người đầu tiên phải chịu
trách-nhiệm, về sự thiếu khả-năng của các vị tướng và của chính
Staline. Và có một điều là các người quân-nhơn này đả không muốn chiến
đãu để bảo vệ một chế-độ ghê-tởm ( exécré ) này và đả nhắc lại một câu
diễn-tả của Lénine : '' đả bầu với đôi chân ''( a voté avec leurs pieds
).
Sau khi hiệp-đînhYalta
được ký-kết, không có một tuần nào mà lại không có các đoàn tàu, rời
các đảo của Anh-quốc để chở trả về nước Nga các người tù vì
chiến-tranh. Trong hai tháng 5 và 6 năm 1945, có tất cả là 1.300.000
người đả được đưa hồi-hương luôn cả các người thường dân đang
cư-ngụ trong các vùng chiếm đóng mà Moscou coi là các công-dân Sô-viết,
gồm luôn các người Ukraine và 3 nước ở ven biển Baltique. Cuối
tháng 8 năm 1945 đả giải-giao 2 triệu người cho các người Sô-viết, và
đả có rất nhiều trường-hợp dử-tợn thường xảy-ra : các việc tự-sát
cá-nhơn và nhiều khi có các vụ tự-sát tập-thể ( toàn-thể một gia-đình )
và luôn cả việc tự hũy-hoại thân-thể để trở nên tàn phế ; các người
tù-binh kháng cự lại một cách thụ-động và các người Anh-Mỹ đả không
ngần-ngại xữ-dụng '' sức-mạnh '' để đàn-áp các người tù-binh này hầu để
đáp-ứng các sự đòi-hỏi của các người Sô-viết. Khi đến nơi, các người ''
hồi-hương '' được đặt dưới sự canh gác của các toán công-an
chính-trị. Trong ngày chiếc tàu Almanzora đến bến Odessa, vào ngày 18
tháng 4 đả xãy ra các cuộc hành-quyết đơn-giản. Và màn ảnh này lại
tái-diễn khi chiếc tàu Empire Pride cặp bến tàu ở trong biển
Hắc-Hải ( Mer Noire ).
Các nước phương Tây lo-ngại là URSS sẽ giữ làm con tin các tù-binh
người Mỹ-Anh-Pháp và dùng các người tù-binh này làm món hàng trao-đổi,
thái-độ rất rỏ-ràng trong các khuynh-hướng của họ trước các sự đòi-hỏi
tuyệt-đối ( diktat ) của các người Sô-viết, bắt buộc phải đưa ''
hồi-hương '' tất cả các người dân Nga đả di-cư sau cuộc cách-mạng năm
1917. Chính-sách này đả được các người ở phương Tây hiểu rỏ, dù có
thỏa-mản các sự đòi-hỏi tuyệt-đối của các người Sô-viết, vẫn không đạt
được kết-quả để làm dể-giải việc trở về của các người công dân của nước
họ. Trái lại, nó còn cho phép một số người cán-bộ Sô-viết được đi
truy-lùng các người '' ương-ngạnh '' và các người cán-bộ Nga đả
hành-động coi thường các luật-lệ của các nước đồng-minh.
Về phần nước Pháp, Bản Thông-báo của Bộ Tư-lịnh Quân-sự Pháp chiếm đóng
nước Đức xác-nhận là đến ngày 1 tháng 10 năm 1945 đả trả trở về cho các
người Sô-viết Nga một số là 101.000 người đả bi chiến-tranh ''
di-chuyễn '' họ đi. Và luôn tại nước Pháp, chính-quyền đả cho thiết-lập
70 trại để tiện việc '' tái tập họp lại '' (regrouper ) và được
hưởng-quyền '' bất xâm-phạm '' như trại Beauregard ở tại vùng ngoại-ô
Paris, và trên các trại này chính-quyền đả từ-khước làm các việc
kiễm-soát và đả chấp-nhận cho các cán-bộ vủa cơ-quan NKVD hoạt-động ở
Pháp không bị trừng-phạt ( impunité ), đả làm trái lại và mâu-thuẩn với
chủ-quyền tội-cao của Quốc-gia ( souveraineté nationale ).
Các người Sô-viết đả suy-tính kỹ-lưỡng và sâu-sắc về các hành-động đem
những người có liên-hệ với họ trở về nước, cùng với sự hổ-trợ của đảng
Cộng-sản Pháp, họ phát-động một cuộc tuyên-truyền khéo-léo. Vào tháng
11 năm 1947 trại Beauregard đả xảy ra vụ xì căn đan ( scandale ) về
việc bắt cóc các trẻ em của một gia-đình đang ợở trong tình-trạng
ly-dị, ông Robert Wybot một công-chức Pháp nhười đả chịu
trách-nhiệm về việc đóng cửa trại này đả tuyên-bố : '' Theo các tin
tình-báo mà tôi có được, các trại '' tập họp '' này, nói nới đúng nghỉa
hơn là các trại '' bắt cóc trẻ em ''. Các việc phản-kháng về chính-sách
của người Sô-viết đả xảy ra quá trể và hiếm-hoi. Mãi đến mùa Hè (
tháng 7 năm 7947 ) tờ nguyệt-san xã-hội '' Quần-chúng '' ( la Masse )
mới đăng : '' Khi Gengis-Khan-Thánh Cát Tư Hản đả ra lịnh khép kín các
biên-giới của nước ông để các người nô-lệ không thể chạy trốn được, đây
là một chuyện dể-hiểu !, nhưng ông ấy lại có thêm một quyền trục-xuất
ra khỏi lãnh-thổ của các nước khác ? Việc này nó vượt qua quá nhiều nền
luân-lý suy-đồi của thời hậu chiến. Lãy quyền gì mà người ta bắt-buộc
con người phải sinh-sống trong một nước mà sự '' nô-lệ '' bản-thân và
luân-thường được áp đặt ? Thế-giới đang mong đợi gì ở nơi Staline, để
rồi phải lặng-câm trước các tiếng kêu-than của các người công-dân Nga,
khi các người công-dân này muốn tự-sát hơn là bị cưởng-bách trở về đất
nước của họ..
Các vị chủ-nhiệm của nguyệt-san nảy đả tố-cáo các vụ trục-xuất sau đây
: '' Trước sự thờ-ơ của quảng-đại quần-chúng đả khuyến-khích việc
xâm-phạm các quyền xin '' ẩn-trú '' ( droit asile ) các vị tư-lịnh
quân-sự người Anh đóng tại nước Italie đả vi-phạm một tội-ác không thể
nói được. Ngày 8 tháng 5, người ta đả đem ra khỏi trại số 7 ở tại
Ruccioné 175 người Nga và cho họ biết rằng họ sẽ được đưa sang
Tô-Cách-Lan ( Ecosse ), và cùng ngày họ củng đem ra khỏi trại số 6 mười
người ( trại này chỉ gồm có toàn phần là các gia-đình ). Khi số 185
người này đả rờbi xa các trại, những quân nhơn người Anh đả lục-soát
tất cả mọi người và tịch-thu tất cả các đồ vật gì có thể dùng để
tự-sát, và sau đó, họ mới nói ra sự-thật '' là tất cả các người này sẽ
được đưa về nước Nga chớ không phải đi sang nước Tô-Cách-Lan ( Ecosse
).Cùng ngày này, người ta củng đả đem đi 80 người thuộc dân gốc vùng
Caucuse , lấy ra từ trại ở Pise. Tất cả các người xấu-số này đả được
đưa đi xang nước Áo, chở trên các toa xe lửa và do những người lính Anh
canh giữ. Có một vài người toan tính chạy trốn nhưng đả bị các người
lính Anh bắn chết.
Các người Nga '' hồi-hương '' này đả bị tập-trung vào các trại gọi là
'' thanh-lọc và kiễm-soát '' ? Các trại này đả được thành-lập từ năm
1941 và củng ở cùng với các trại lao-động và đả được sát-nhập vào
hệ-thống các Goulag vào năm 1946. Trong vòng năm 1945 đả có 210 000
người tù bước qua ngưởng cửa của các trại này và các người tù này đả
được hội-nhấp vào các Goulag vào thời cao-điễm của tổ-chức này ; nói
tổng-quát chiếu theo điều-luật số 58-1-b, họ đả bị tuyên-án tập-thể 6
năm tù giam ở các trại lao-động. Trong số các người vô-phước này có một
số người đả tham-gia vào lực-lượng quân-đội giải-phóng người Nga và đả
chiến đãu chống lại quân-đội SS của Đức-Quốc-Xã để giải-phóng thành-phố
Prague ở Tiệp-Khắc ( Tchécolovaquie ).
Việc đối xữ với các
tù-binh '' địch ''
Năm 1929 ? tại Genève có một cuộc họp và để ký một thỏa-ước về các
tù-binh chiến-tranh. Liên-Bang Sô-Viết URSS không có tham-gia
ký-kết thỏa-ước này. Trên lý-thuyết thì các tù binh đều được bảo-vệ tuy
là nước của họ đả không có ký vào thỏa ước này. Nhưng Liên-Bang Sô-Viết
không có '' đếm xỉa '' gì thỏa-ước này và đối với họ là vô giá-trị. Là
nước thắng-trận, URSS còn giam-giữ từ 3 đến 4 triệu tù-binh người Đức.
Trong số các tù-binh người Đức này, có một số người tù-binh được
quân-đội Mỹ-Anh-Pháp đả phónh-thích ; họ trở về quê-hương của họ trong
các vùng do Hồng-quân Nga chiếm đóng, họ đả bị bắt trở lại và bị đưa đi
lưu-đày ở các trại lao-động trong nước Nga.
Đến tháng 3 năm 1947, ngoại trưởng Nga Viatcheslav Molstov đả tuyên bố
là đả có một triệu người Đức được hồi-hương, ( đúng số là 1.003.000
người ) và còn lại một số là 890.532 người còn bị '' quản-thúc '' ở
nước Nga. Con số này đả bị bác bỏ. Đến tháng 3 năm 1950 ? Liên Bang
Sô-Viết tuyên-bố là việc hồi-hương các tù-binh đả hoàn-tất. Tuy vậy,
các tổ chức nhơn đạo đả báo cáo là còn lại một số là 300.000 tù-binh
còn bị giam-giử lại cùng với 100.000 người thường dân. Ngày 8 tháng 5
năm 1940, chính-phủ Lục-Xâm-Bảo ( Luxembourg )phản-kháng việc chấm dứt
'' hồi-hương '' và đóng cửa các trại vì còn có 2000 công dân của họ vẫn
còn bị giữ lại trên đất Nga. Việc giữ lại các thông-tin về số phận các
tù-binh đả có dụng ý là che dấu các sự thật đáng buồn về định mệnh của
các tù-binh ? Người ta liền nhỉ đến con số ''tử-vong '' của các
người '' tù-binh '' trong các trại-giam.
Một ũy-ban đặc-biệt, mang tên Machke ước-lượng rằng đả có 1.000.000
người tù-binh Đức đả bị Hồng-quân Nga bắt sau trận chiến-thắng ở
Stalingrad, chỉ còn có 6000 người sống-sót được trả về. Bên cạnh hay là
cùng với các người tù-binh người Đức củng có 60000 người tù-binh người
Italie đả sống-sót vào tháng 2 năm 1947 ( con số 80000 người củng được
đưa ra. Chính-phủ Italie đả công-bố là đến ngày tháng kể trên, chỉ có
12513 người tủ-binh Italie được phóng-thích và được đưa trả trở về nước
Italie. Và phải tính thêm vào số tù-binh người Hongrie và Roumanie,
chiến đãu với quân-đội Đức-quốc-xã trên mặt trận Nga củng chịu chung
một số phận. Tháng 3 năm 1954, một trăm người tình-nguyện Espagne thuộc
sư-đoàn '' AZUL '' chiến đãu với quân-đội Đức-quốc-xã được phóng-thích.
Và với việc nhìn tổng-quát về số tù-binh '' đîch '' sẽ còn thiếu sót
nếu không nói đến số-phận 900000 tù-binh Nhựt trên bị-bắt ở các mặt
trận ở Mản-châu- Mandchouric vào những ngày cuối của đệ nhị thế-chiến.
Thãm-cảnh của những người
'' mặc dầu chúng tôi '' hay '' Bất đắc dỉ '' - Malgré nous
Ở trong các trại-giam của cộng-sản có một câu nói ( dicton ) đả diển ra
hoàn-toàn về đa số các nguồn-gốc của các sắc-tộc mà trong toàn số dân
của chế-độ lao-tù sô-viết : '' Nếu nước nào không có người đại-diện ở
trong các Goulog, nước đó không có trên thế-giới này ''. Nước Pháp củng
có một số người tù-giam mà bộ Ngoại-giao Pháp đả không tích-cực để
bảo-vệ và phàn-kháng để hầu cho các người tù-binh này được trở về Pháp.
Mùa Xuân năm 1940, quân đội Pháp đả xin ngưng chiến ( armistice ) ngày
17 tháng 6. Ba tỉnh Moselle-Thượng vàHạ sông Rhin đả được các người
Nazi ( Quốc-xã ) đối xữ một cách đặc-biệt : Các vùng Alsace-Loraine đả
bị xát nhập vào lảnh-thổ Đức-quốc, bị Đức hóa và luôbn Quốc-xã hóa. Năm
1942, các người Quốc-xã đả quyết-định '' cưởng-bách '' các thanh-niên ở
tuổi quân-dịch ( sinh từ các năm 1920 đến 1924 ) phải nhập ngủ vào quân
đội Đức. Rất nhiều thanh-niên là dân của các vùng Moselle và Alsace,
không hề muốn phục-vụ dưới lá cờ của Đức-Quốc-Xã và tìm mọi cách để
trốn-tránh cái việc này mà người Quốc-Xã đả đặc cho cái tên ''
Đặc-quyền '' ( privilège ). Cho đến ngày chiến-tranh chấm dứt, đả có
tất cả 21 tuổi đả bị động-viên ở vùng Alsace và 14 lớp tuổi đả bị động
viên ở vùng Moselle. Tổng số là 130000 thanh-niên đả bị cưởng-ép
phải đi chiến đãu trên mật trận ở đất Nga. 22000 thanh-niên này đả
tử-trận. Phong-trào '' nước Pháp tự-do '' của tướng De Gaulle đả
thông-báo tình-trạng của các thanh-niên '' bất đắc dỉ '' này ( les
malgré nous ) cho các nhà cầm-quyền quân sự Sô-viết để họ hiểu rỏ
hoàn-cảnh của các thanh-niên này. Ở tại mật trận Nga, các người Sô-viết
đả kêu gọi các thanh-niên này hảy đào-ngũ, hứa với họ là họ sẽ được đưa
trả vào cho phong-trào nước Pháp tự-do hầu họ có thể chiến đãu chống
lại quân đội Đức. Dù vậy và trong mọi trường-hợp, đả có 23000 người
lính '' bất đắc dĩ '' này đả bị bắt làm tù-binh ; đó là con số mà mãi
đến năm 1995 cơ-quan của nước Nga ? đả trao các hồ-sơ liên-hệ cho
chính-phủ Pháp. Một số lớn các người lính '' bất đắc dĩ '' này được
tập-họp tại trại-giam số 188 ở Tambov và đặc dưới sự canh gác của
cơ-quan MVD ( cựu NKVD ) với sự sống còn rất là kinh-hoàng : thiếu ăn
vì mỗi ngày được phát có 600 gờ-ram bánh mì đen, lao-động khổ sai trong
càc khu rừng, chổ ở đơn-sơ trong các căn nhà bằng gổ với phân nửa được
chôn dưới đất và không có được hưởng một sự săn-sóc y-tế nào cả. Các
người sống-sót ở đây đả ước-lượng là đả có 14000 người tử-vong vào các
năm 1944 và 1945. Ông Pierre Rigoulot đả cho xuất bản cuốn sách : : ''
Thảm kịch của các người Bất Đắc Dĩ ''. '' Tambov trại-giam người Pháp
''. Nhà xuất-bản Denoel-1990, đả đưa ra con số 10000 người mất-tích.
Sau nhiều cuộc thương-lượng lâu dài, 1500 người tù-binh đả được trả
tự-do vào mùa hè năm 1944 và được chởb trả về Alger. Nếu Tambov là nơi
có trại-giam là một số lớn người dân Alsace-Lorraine bị giam-cầm, còn
có nhiều trại-giam khác ở nhiều nơi khác đả giam-giữ nhiều người Pháp
và tạo lên hình-ảnh của các tiểu quần-đảo đả cản-trở các người Pháp này
không chiến-đãu được để để giải-phóng tổ-quốc của họ.
Nội chiến và chiến-tranh
giải-phóng Quốc-gia
Khi hiệp-ước Đức-Quốc-Xã và Liên-bang được ký-kết, đó là việc làm và
thời điễm mà các đảng cộng-sản của các nước đả sụp đổ vì các đảng viên
không chấp-nhận chính-sách chống phát-xít bị bỏ rơi nhưng đến ngày 21
tháng 6 năm 1941 khi quân đội Đức Quốc-Xã tấn công vào lãnh-thổ Nga thì
phản-ứng chống phát-xít được phát-động liền trở lại liền. Ngày 23 tháng
6 tổ-chức Komintern đả dùng đài phát-thanh và đánh các điện tín cho các
chi-bộ của tổ-chức này trên toàn thế-giới và giải-thích lúc này hảy xếp
qua một bên các việc cách-mạng xã-hội mà là giờ đãu-tranh chống lại
phát-xít và trận chiến để giải-phóng quốc-gia. Đồng thời, tổ chức
Komintern đòi hỏi tất cả các nước cộng-sản của các nước bị quân-đội Đức
chiếm đóng phải lập tức có các hành-động võ-trang. Chiến-tranh là một
hình-thức giúp cho đảng cộng-sản có cơ-hội để thữ-nghiệm một '' hành
động mới '' : đãu tranh võ-trang và phá hoại bộ máy chiến-tranh củ
Hitler và tạo các điều-kiện để phát-triễn chiến-tranh du-kích. Các bộ
máy bán quân-sự được tăng cường để tạo thành những người cán-bộ của các
toán võ-trang cộng-sản, và tùy theo từng nước hay tùy theo các địa-hình
( géographie ) cùng các hoàn-cảnh sẽ trở-thành các tổ-chức du-kích đáng
kể như ở Hy-lạp-Grèce và ở Nam-tư-Yougoslavie. Khởi đầu từ năm
1942 và đến năm 1943 ở Albanie và miền Bắc Italie vào cuối năm 1943.
Nếu gặp trường-hợp thuận lợi, các hoạt-động của các tổ-chức du-kích sẽ
cướp lấy chính-quyền không từ nan có thể xãy ra cuộc nội-chiến.
Điển hình về '' Định hướng mới '' này là các việc đả diển ra ở
Yougoslavie. Từ mùa xuân năm 1941 Hiler đả phải gởi quân-đội qua
Hy-lạp-Grèce để cứu đồng-minh của mình là Italie đang '' xa lầy '' tại
đây vì phải đương đầu với một đạo quân nhỏ bé quyết-chiến. Và đến tháng
4 năm 1941, Hitler đả phải gởi quân-đội qua Yougoslavie và chính-phủ
thân Đức ở đây đả bị lật đổ bởi một cuộc đảo-chính của nhóm thân nước
Anh. Ở tại hai nước này đả từng có các đảng cộng-sản yếu-ớt nhưng lại
giàu kinh-nghiệm, : Họ đả hoạt-động trong vòng bí-mật từ nhiều năm qua
vì các chế-độ độc tài của Stojadinovic và Metaxás đả cấm các đảng
cộng-sản hoạt-động công-khai.
Sau khi chính-phủ Yougoslavie xin đình-chiến, nước Yougoslavie đả bị
chia cắt cho các nước Italie, Bulgarie và Đức. Thêm vào đó một cái gọi
là '' nước Croatie '' độc-lập đả do các người cực-hữu nắm chính-quyền,
các người được gọi là Outachi do Ante Paveclic lãnh đạo và đả thi-hành
chính-sách '' kỳ-thị '' đối với các người Serbe ; đưa đến các việc tàn
sát các người Serbe rồi lan luôn qua các người Do-thái và Tziganes.
Chủ-trương không chấp nhận một sự đối-lập nào đả khiến cho nhiều Croate
tham-gia vào cuộc kháng chiến. Ngày 18 tháng 4 năm 1941, sau khi quân
đội Yougoslavie đả đầu-hàng quân đội Đức, các người đầu tiên bỏ trốn vô
rừng để tổ-chức kháng chiến là các sĩ-quan hoàng-gia tập hợp chung
quanh Đại-tá Drazá Mihailovic và chẳng bao lâu sau ông được chỉ định là
người chỉ-huy kháng-chiến Yougoslave, rồi trở thành Bộ-trưởng Bộ
Chiến-tranh của Chính-phủ Hoàng-gia Yougoslave lưu-vong sang Anh. Chỉ
sau khi quân Đức xâm lăng Liên-bang Sô-viết ngày 21 tháng 6 năm 1941,
thì các người cộng-sản mới quy-tụ lại với sứ mạng mới là đãu-tranh để
giải-phóng quốc-gia khỏi ách phát-xít nhưng chưa phát-động cuộc cách
mạng xã-hội. Về phần Đại-tá vừa được thăng lên tướng Mihailovic thì lo
tổ-chức tại vùng Serbie một quân đội toàn người Serbe và họ được đặc
tên là Tchetniks. Trong lúc Moscou muốn '' vị nể '' càng lâu càng tốt
nơi chính-phủ hoành-gia lưu-vong Yougoslave để đừng làm các đòng minh
người Anh lo ngại. Lãnh tụ cộng-sản Tito cãm thấy mình có đủ sức mạnh
để hành-động theo ý muốn và đường hướng của mình, từ chối sự đặt mình
dưới sự tuân lệnh của chính-phủ hợp-pháp đang lưu-vong. Không đặt vấn
đề khác biệt sắc-tộc trong việc tuyển mộ các chiến sĩ vì Tito là người
thuộc sắc dân Croate, ông thiết-lập các căn cứ du-kích quân ở Bosnie.
Trở thành các đối thủ, hai phong-trào đòng phát-triển các mục tiêu dối
chọi nhau đả quay lại chống nhau. Để đối phó với các kỳ vọng của các
người cộng-sản, Mihailovic đả nương các người lính Đức và gần như đồng
minh với các người Italie. Tình hình đả trở nên một sự hổn-độn thật sự,
trộn lẩn một sự chiến-tranh giải-phóng với một cuộc nội chiến, các sự
đối chọi về chính trị cùng với hận-thù sắc-tộc đả tăng lên vì chịu sự
chiếm đóng của một quân đội ngoại quốc. Đả xãy ra biết bao nhiêu cuộc
tàn sát lẫn nhau do từ mọi phía, mà nơi đó mọi phía tìm cách tiêu diệt
các đối thủ chính của mình hầu áp đặc được quyền lực lên dân chúng.
Các sữ gia đả đưa ra con số một triệu người đả chết trên dân số mười
sáu triệu cho toàn quốc. Bị hành-quyết, tù binh bị sữ bắn, các người bị
thương cũng bị giết luôn và sự trả thù dưới mọi hình thức không hề
ngưng và chuyện này đả trở nên dễ dàng vì nền văn-hóa vùng Ba-lan này
là môi-trường của sự nuôi dưởng việc chống đối các bộ lạc hay bè đảng.
Nhưng có một sự khác biệt giữa các cuộc tàn sát do phe tchetnik và các
cuộc tàn sát do các người cộng-sản chủ-trương : các người tchetnik họ
chỉ chịu lịnh của bộ chỉ-huy trung ương một cách lỏng-lẽo và đả có
nhiều nhóm đả không chịu sự kiễm-soát của tướng Mihailovic đả chủ
trương các cuộc tàn sát này trên tiêu-chuẩn sắc tộc hơn là chính-trị.
Về phần các người cộng-sản họ hành-động theo các tiêu-chuẩn quân sự và
chính-trị ; Milovan Djilas, một người phụ tá đắc lực của Tito, về sau
đả biểu lộ : '' Chúng tôi rất lấy làm oán hận về các lý do vì sao các
người nông dân đả ủng-hộ các người tchetnik, họ nói họ sợ vì các nhà
của họ sẽ bị đót hủy và sẽ phải chịu các sự trả thù khác. Vấn đề này đả
được nêu lên trong một buổi họp với Tito, và lý lẽ sau đây đả được đưa
ra : '' Chúng ta phải giải-thích cho các người nông dân để họ hiểu là
nếu họ ủng hộ các người xâm lăng trong đó có sự chen vào của các người
tchetnik , các người kháng-chiến thân hoàng-gia và các người Đức xâm
lăng, chúng ta cũng đót phá các nhà cửa của họ ; như vậy họ sẽ đổi lập
trường. '' Sau cùng Tito đả quyết định dứt khoát :'' Thôi được
thỉnh-thoảng chúng ta cũng đốt phá một cái nhà hay một xóm làng''. Về
sau Tito cũng đả ra lịnh nằm trong chiều hướng này- các lịnh này quyết
định hơn vì nó đả được giải-thích rỏ ràng hơn.
Tháng chín năm 1943, nước Italie đầu hàng Đồng-minh. Thủ-tướng
Churchill quyết-định viện-trợ quân sự của Đồng-minh cho Tito thay vì
cho Mihailovic, rồi đến việc Tito thành-lập Hội-đồng chống
Phát-xít và giải-phóng quốc-gia Yougoslavie (AVNOJ) vào tháng chạp năm
1943, các người cộng-sản đả đạt được một thắng lợi về chính-trị trên
các đối thủ cũa họ. Cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, các thân binh cộng
sản đả sửa-soạn để lan tràn và chiếm đóng toàn diện lãnh thổ của
Yougoslavie. Khi quân lực Đức quốc xã sắp sữa đầu hàng Đồng minh,
Pavelic và quân lực của ông, các người công chức cùng với gia-đình,
tổng cộng vài chục ngàn người, đả rút chạy về phía biên-giới Áo quốc.
Các Bạch quân người slovène và những tchetniks người monténégrins đả
cùng với những người lính của Croatie đả họp nhau tại Bleiburg, nơi đó
họ đả đầu hàng quân lực Anh quốc và đồng bị giải giao cho Tito.
Các người lính, các người công-an và cảnh-sát đủ mọi loại đả bị cưởng
ép ra đi trên một khoảng đường dài vài trăm kí-lô mét xuyên qua hết
nước Yougoslavie và cuộc đi này được biết dưới tên là :'' hành-trình
của tữ-thần ''. Những người tù-binh slovènes này được đưa về vùng
Slovénie trong địa phận Kocevje và đả có khoảng hai hay ba chục ngàn
người đả bị hạ-sát. Là kẻ chiến-bại, các người Tchetnik đả không tránh
được sự trả thù của các thân binh cộng-sản vì các người này khôbng bắt
tù-binh. Milovan Djilas đả nói lên giai-đoạn cuối cùng của các người
Serbes nhưng không giám tiết lộ các chi-tiết thật sự của các hành-động
rùng-rợn nơi cuộc hành quân cuối cùng này : '' Các người lính của Drazá
( Mihailovic) đả bị tiêu diệt một lúc cùng với các người lính Slovénie.
Các toán nhỏ người Tchetniks họ chạy thoát được về vùng Monténégro sau
cuộc bị đè nát này, đả thuật lại những sự việc rùng-rợn đả xảy ra tại
nơi đó. Không một ai dám nói lạitất cả các diễn biến đả xảy ra, dù là
những người đả từng nêu cao tinh-thần cách mạng. Và đó là sự kết thúc
của một cơn ác-mộng. Bị bắt, bị đem ra xữ và bị tuyên án tữ-hình, Drazá
Mihailovic đả bị xử bắn ngày 17 tháng 7 năm 1945. Trong lúc xử án, các
vị sĩ-quan Đồng-minh đả được biệt phái đến cố vấn ở bộ tham mưu của
tướng Mihailovic và đả từng chiến đãu với vị tướng này chống lại quân
đội Đức Quốc-Xã, các lời chứng của các vị sĩ-quan Đồng-minh để '' minh
oan'' cho tướng Mihailovic đều bị tòa án bác bỏ. Sau chiến tranh trong
một cuộc đàm-thoại cú Staline với Milovan Djilas ông đả bày tỏ căn-bản
triết lý của ông :'' Kẽ nào chiếm đoạt được một vùng lãnh thổ có quyền
áp đặt chế độ xã-hội của họ tại nơi đây.
Với cuộc đệ nhị thế chiến, các người cộng-sản Hy-lạp -Grèce củng đả ở
cùng một trường hợp với các người đồng chí Yougoslave của họ. Ngày 2
tháng 11 năm 1940, sau vài ngày quân đội phát xít Italie đả xâm lăng
nước Hy-lạp, ông Nikos Zachariadis, thơ-ký của đảng cộng-sản Hy-lạp
viết tắt là KKE, bị cầm tù từ tháng 9 năm 1936 đả kêu gọi quân dân đứng
lên kháng-chiến :'' Quốc-gia Hy-lạp ngày hôm nay đả đang chiến đãu
trong một cuộc chiến-tranh giải-phóng quốc-gia chống lại phát-xít
Loussolini.(...) Tất cả mọi người phải chiến đãu, mỗi người ở vị-trí
của mình ''. Nhưng qua ngày7 tháng 12, một bản tuyên ngôn của Ũy Ban
Trung Ương bí mật của đảng cộng-sản đả nêu lên vấn đề của sự định hướng
trong lời kêu gọi nơi Nikos Zachariadis và KKE vẩn giữ đường lối chính
thức của tổ-chức Komintern, đường lối chủ bại cách-mạng. Ngày 22 tháng
6 năm 1941 diễn ra một cuộc '' trở mặt ngoạn mục '' : '' KKE ra lịnh
cho tất cả đảng viên tổ chức một cuộc đãu-tranh để bảo-vệ Liên bang
Sô-viết và lật đổ ách phát-xít ngoại-quốc ''.
Các kinh-nghiệm '' đãu-tranh và hoạt-động'' trong bóng tối rất là quý
cho các người cộng-sản cùng các điều liện thuận lợi. . Ngày 16 tháng 7
năm 1941, cũng như các đảng đảng cộng-sản của các nước khác, họ đả
thành-lập Mật trận Công-nhơn Giải-phóng quốc-gia viết tắt là EEAM
(Ergatiko Ethniko Apélevthériko Métopo ), và tập hợp được 3 tổ chức
nghiệp đoàn. Đến ngày 27 tháng 9, được tổ chức thành một tổ chức khác
tên là EAM ( Ethniko Apélevthériko Métopo). Mật trận quốc-gia là
cánh tay chính-trị của đảng cộng-sản. Đến ngày 10 tháng 2 năm 1942, lại
thêm một tổ chức : Quân đội nhơn dân giải-phóng quốc-gia, viết tắt
là ELAS ( Ellinikos Laikos Apélevthérotikos Métopo ) và các
tổ-chức ở trong bưng đả được thành lập vào tháng 5 năm 1942, theo
sáng kiến của Aris Velouchiotis ( và còn có tên khác là Thanassis
Klaras ) một người đấu tranh có nhiều kinh nghiệm và y đả ký một tờ
tuyên bố quy thuận để được ra khỏi khám đường. Và từ đó nhân số của
ELAS tiếp-tục gia tăng.
ELAS không phải là một tổ chức quân sự duy nhứt để kháng chiến. Còn có
thêm tổ chức EDES ( Ethnikos Démokratikos Ellinikos Syndesmos) tên viết
tắt của tổ chức đoàn kết quốc-gia dân chủ Hy-lạp đả do các nhơn dân và
thường dân cộng-hòa, được tổ chức từ tháng 9 năm 1941 do một vị đại tá
hồi hưu tên Napoléon Zervas, chỉ huy một nhóm du kích quân. Một tổ chức
thứ ba được thành lập vào tháng 10 năm 1942 do đại tá Psarros chỉ huy,
tên viết tắt là EKKA ( Ethniki Kai Koiniki Apélevthérosis) phong-trào
giải-phóng xã-hội và quốc-gia. Mỗi một tổ chức đều mưu tính thu nhập
các đoàn viên và các người đãu tranh thuộc các tổ chức khác.
Nhưng với các thành công và sức mạnh của tổ-chức ELAS đả khiến cho các
người cộng-sản lạnh lùng mưu toan ép đặc '' bá quyền '' (hégémonie) lên
toàn thể các người kháng-chiến. Các căn cứ ở trong bưng ( maquis ) của
tổ chức EDES đả bị tấn công nhiều lần củng như các căn-cứ của tổ-chức
EKKA, đả bắt buộc phải phân tán các lực-lượng vũ-trang của mình và chờ
khi có dịp hành sự sẽ quy tụ lại. Cuối năm 1942, ở vùng phía Tây của
Thessalie, dưới chân của các dải núi Pinde, thiếu-tá Kostopoulos, một
người ly-khai của tổ chức EAM và đại-tá Safaris đả thành-lập một đơn vị
kháng chiến nằm trong trung-tâm của một vùng mà tổ chức EAM đả
thiết-lập được ; tổ chức ELAS liền tung quân bao vây và tàn sát các
chiến sĩ thuộc tổ chức EAM, các người chiến sĩ nào không chạy thoát
được và từ chối tham-gia vào đội ngũ của ELAS. Bị bắt làm tù-binh,
đại-tá Safaris sau củng đả đành chấp nhận trở thành vị tham mưu trưởng
của tổ chức ELAS.
Sự hiện-diện của các sĩ-quan người Anh được phái đến để giúp đở các
người kháng-chiến đả làm cho các người chỉ huy tổ chức ELAS lo ngại ;
các người cộng-sản lo-ngại là các người Anh sẽ bắt buộc họ phải phục
hồi chế độ quân chũ. Trong khi ấy đả có hai thái độ khác nhau giửa
ngành quân sự do Velouchiotis và KKE chính thống do Giorgos Siantos
những người này tuân theo các chỉ thị của Moscou.-một chính sách liên
minh chống phát-xít. Ac cuộc hành-động của các quân nhơn người Anh vào
tháng 7 năm 1943, đạt được việc ba tổ chức kháng chiến ký với nhau một
thỏa hiệp, vào lúc đó lực-lượng ELAS có lối 18 ngàn người lính,
lự-lượng EDES có 5 ngàn lính và lực-lượng có khoảng 1000 lính.
Tình hình ở tại đây thay đổi liền vào ngày 8 tháng 9 năm 1943 khi nước
Italie ký giấy đầu hàng. Một trận chiến tranh huynh đệ tương tàn liền
diển ra ngay, trong khi đó quân đội Đức Quốc Xã đóng tại đây tấn công
các vị trí của tổ chức EDES và bắt buộc các lực-lượng của tổ chức này
phải rút lui. Do đó, họ sẽ gặp phía trước mặt trên đường lui quân là
các tiểu đoàn của tổ chức ELAS và các tiểu đoàn này tìm cách bao vây họ
để tiêu diệt. Quyết-định thanh-toán các lực-lượng võ-trang của EDES đả
được ban chỉ đạo của đảng cộng-sản KKE quyết định và họ mưu toan
khai thác tình thế mới này hầu làm thất bại chính sách của người Anh.
Sau bốn ngày đánh nhau, các chiến-sĩ của Zervas đả phá vỡ vòng vây và
tẩu thoát.
Cuộc nội chiến xãy ra trong lòng của cuộc chiến tranh giải phóng đả cho
quân đội Đức nhiều cơ hội để hành quân, các quân đội Đức liên-tục tấn
công khi thì tổ chức kháng chiến này, lúc thì tổ chức các cuộc kháng
chiến khác. Các nước đồng minh có sáng kiến quyết-định chấm dứt cuộc
nội chiến này : Các trận đánh giữa hai tổ chức ELAS và EDES được ngưng
vào tháng 2 năm 1944 và một thỏa-ước được ký kết ở Plaka, nhưng chỉ phù
du ( éphémère) : vài tuần lễ sau các lực-lượng của ELAS lại tấn công
các lực-lượng của EKKA do đại-tá Psarroschỉ huy. Ông và các sĩ quan của
ông đều bị tàn sát và riêng về phần ông thì bị chặt đầu. Các hành động
của các người cộng-sản đả đưa đến kết quả là làm mất tinh thần của các
tổ kháng chiến và làm mất uy-tín của EAM, cánh tay chính-trị của đảng
cộng-sản ; trong nhiều vùng toàn thể dân chúng đều oán hận đối với các
người cộng-sản và thù hận đả đến độ sâu sắc khiến cho nhiều người kháng
chiến đả bỏ ngũ, gia nhập vào các tiểu đoàn an-ninh do người Đức thành
lập. Cuộc nội chiến này chỉ chấm dứt khi tổ chức ELAS chịu tham gia và
hợp tác với chính-phủ hợp pháp lưu-vong của Hy-lạp ở Le Caire (Ai-Cập).
Tháng 9 năm 1944, sáu người đại-diện cho EAM-ELAS trở thành nhơn viên
của chính-phủ đoàn kết quốc-gia do ông Georges Papandréous lãnh đạo.
Ngày 2 tháng 9 năm 1944, khi quân đội Đức Quốc Xã bắt đầu cuộc rút quân
ra khỏi lãnh thổ Hy Lạp, tổ chức ELAS tiến quân để chiếm đóng vùng
Péloponnèse nằm ngoài vùng kiễm soát của họ, vì có sự hiện diện của các
tiểu đoàn an-ninh của quân Đức để lại. Các thành phố và các làng
mạc đả bị '' trừng phạt ''. Tại Meligala, một ngàn bốn trăm người gồm
có nam, nữ và trẻ em đả bị tàn sát cùng với lối 50 người sĩ quan và hạ
sĩ quan của các tiểu đoàn an-ninh.
Hình như không có gì có thể làm chướng ngại vật cho bá quyền của
EAM-ELAS. Mặc dù thủ đô Athènes đả được giải phóng ngày 12 tháng 10 n
nhưng đả thoát khỏi ''bá quyền '' của Cộng-Sản vì quân lực của
hoàng-gia Anh đả đổ bộ lên vùngPirée. Ban lãnh đạo KKE do dự không dám
dùng sức mạnh chống lại quân lực Anh quốc. Họ toan tính chơi trò chính
phủ liên hiệp ? Chả có gì có thể gọi là chắc chắn ? và họ đả từ chối
giải ngũ các lực lượng võ trang thuộc ELAS, theo lời yêu cầu của chính
phủ đoàn kết quốc gia, Iannis Zegvos, Bộ Trưởng Bộ Canh Nông là người
cộng-sản đả yêu cầu giải tán các đơn vị riêng đả tuân theo lịnh của
chính phủ. Ngày 4 tháng 12 các đơn vị tuần tiểu thuộc Elas tiến vào
Athènes và đả phải đụng đầu với các đơn vị quân đội của chính phủ. Ngày
hôm sau, gần như tất cả thành phố Athènes đều nằm dưới sự kiễm soát của
các đơn vị võ trang của tổ chức Elas vì họ đả huy động gần 20 000 người
; nhưng quân đội hoàng gia Anh đả chống cự lại mong đợi các viện binh
được gởi đến. Ngày 18 tháng 12 các lực lượng Elas tấn công vào các vị
trí đóng quân của lực lượng EDES ở vùng Épire. Song song với các trận
đánh đang diễn ra các người cộng sản đả phát động một cuộc thanh-trừng
đẫm máu chống lại phe nhà vua.
Cuộc tấn công của cộng-sản đả bị thất bại, và họ đành chịu miển cưởng
ký kết, trong một cuộc họp được diễn ra ởVarkiza, một thỏa ước ấn định
việc giải giới các lực lượng võ trang thuộc tổ chức võ trang ELAS.
Nhưng trên thực tế đả có rất nhiều súng và các vũ khí khác đả được bí
mật chôn dấu. Aris Velouchiotis, một trong những người lãnh đạo đả từ
chối không chấp nhận thỏa ước được ký kết ở Varkiza và đả chạy vào bưng
cùng lối 100 người chiến sĩ thân tín của ông, rồi ông chạy sang ẩn náu
ở nước Albanie, hy vọng sẽ trở lạbi chiến đãu vũ trang. Được hỏi ông về
các lý do của cuộc thất bại nơi các tổ chức ELAM-ELAS, Vélouchiotis đả
thẳng thắng trả lời : '' Đó là việc chúng tôi đả giết một số '' quá ít
'' các người. Các người Anh đả chú ý đến cái '' ngã tư '' này mà người
ta gọi là nước Hy Lạp ; nếu chúng tôi không để một người bạn nào của
người Anh sống sót, các người Anh không thể nào đổ bộ được ở một phần
đất nào. Nhưng các người khác gọi tôi là '' tên giết người '' : và coi
bây giờ tình hình đã đưa đẩy chúng tôi vào tình trạng này. Và ông thêm
vào : Các cuộc cách mạng chỉ thành công khi nào các con sông đều nhộm
đỏ máu đào và đáng công để làm đổ máu. Đó là phần thưởng cho việc thay
đổi hoàn toàn xã-hội loài người ''. Người sáng lập ra ELAS, Aris
Velouchiotis đả bị giết chết vào tháng 6 năm 1945 trong một trận chiến
đả xãy ra ở vùng Thessalie, vài ngày sau khi ông bị khai trừ ra khỏi tổ
chức KKE của đảng cộng-sản Hy Lạp . Cuộc thua trận của hai tổ chức
ELAM-ELAS đả giải thoát được các phản ứng, các mối oán thù chống lại
các người cộng-sản và các người đồng minh. Nhiều nhóm bán quân sự đả
giết chết nhiều người tranh đãu ; các người lãnh đạo thì bị đưa đi lưu
đày ra các hòn đảo nhỏ.
Tháng 5 năm 1945, Nikos Zachariadis, tổng thơ ký của đảng cộng-sản
Hy-Lạp KKE từ trại Dachau ở Đức quốc, được quân đội đồng minh phóng
thích trở về Hy-Lạp. Các lời tuyên bố đầu tiên của ông đả phát biểu rỏ
ràng đường lối chính trị của KKE :'' Hoặc là chúng ta sống trở lại dưới
chính sách độc tài còn ngặt nghèo hơn cả chế độ độc tài quân chủ phát
xít hay là tiếp tục cuộc đấu tranh của EAM để giải phóng quốc gia để
đạt được việc hình thành cho nước Hy-Lạp một chính thể dân chủ nhơn
dân. Nước Hy-Lạp đả đổ máu và bị tàn phá quá nhiều lại không có hy-vọng
sẽ được hưởng một cuộc hòa bình dân chính. Vào tháng 10 năm 1945, đại
hội 7 của đảng cộng-sản Hy-Lạp đả chấp thuận các mục tiêu do
Zachariadis đề ra. Giai đoạn đầu tiên là vận động để quân đội hoàng gia
Anh quốc triệt thoái ra khỏi nước Hy-Lạp. Tháng Giêng năm 1946, Liên
Bang Sô-Viết đả biểu lộ về các quyền lợi của họ ở Hy-Lạp và đả kêu gọi
Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc về các nguy cơ của sự hiện diện đóng
quân của quân đội hoàng gia Anh tại nước này. Ngày 12 tháng 12, khi
cuộc tổng tuyển cử để bầu các vị đại biểu thành lập quốc hội và cảm
thấy sự thua phiếu và thất cử của đảng cộng-sản, họ liền kêu gọi việc
'' bỏ không tham dự '' ( abstention ), đảng KKE quyết định tổ chức một
cuộc tổng nổi dậy với sự giúp đở của các người cộng sản Yougoslave.
Vào tháng chạp đả diễn ra một cuộc họp giữa các đảng viên cộng-sản, của
ủy ban trung ương KKE, với các viên sĩ quan yougoslave và bulgare. Các
người Cộng-sản Hy-Lạp đả được đãm bảo là họ có thể sữ dụng lãnh thổ
Albanie, Yougoslavie và Bulgarie làm hậu cứ. Trong 3 năm kế tiếp các
chiến sĩ cộng sản đả có thể xữ dụng các hậu cứ để ẩn náu, săn sóc các
thương binh và dùng các vũ khí mà họ đả dự trử ở các hậu cứ này. Tất cả
các cuộc chuẩn bị này đả bắt đàu vài tháng sau khi tổ chức Kominform (
tên viết tắt của Kommunist Information ) và sự kiện đả hiện ra rỏ ràng
là cuộc nổi dậy của các người cộng-sản Hy-Lạp là nằm trong chính sách
mới của điện Kremlin. Ngày 30 tháng 3 năm 1946, đảng cộng sản Hy-Lạp
KKE đả đảm nhận trọng trách phát động cuộc nội chiến lần thứ ba. Các
cuộc tấn công đầu tiên do các lực lượng võ trang mà họ tự gọi là quân
đội dân chủ ( viết tắt là AD ). Được thành lập từ ngày 28 tháng 10 năm
1946 và do tướng Markos Vafiadis chỉ huy, đả được diễn ra theo các
khuôn mẫu củ, họ tấn công vào các đồn trại của quân cảnh, các người
quân cảnh bị tàn sát cùng các vị thân hào. Suốt cả năm 1946, KKE liên
tục hành động công khai !.
Trong những tháng đầu năm 1947, tướng Markos gia tăng các cuộc hành
quân : các làng xã bị tấn công đả gia tăng con số lên nhiều chục làng,
cùng với hàng trăm người nông dân đả bị hành quyết. Quân sĩ của AD đả
gia tăng, nhờ vào các việc cưởng bách tòng quân xãy ra ở các nông thôn.
Nếu có một đơn vị làng nào từ chối, không đáp ứng các đòi hỏi của AD,
làng này phải chịu sự '' trảthù '' ; một ngôi làng ở Macédoine đả bị
trả một giá quá cao : 48 ngôi nhà bị đốt, 12 người nam, sáu người nử và
2 em bé bị hành quyết. Khởi đầu từ tháng 3 năm 1947, các vị chủ tịch
các hội đồng xã lần lượt bị ám sát cùng với các vị linh mục. Và cũng
vào tháng này số người tị nạn đả lên đến 400 000 người . Chính sách
khủng bố đả khiến diễn ra chính sách chống khũng bố : các người thuộc
các nhóm '' cực hữu '' đả giết hại các người tranh đãu cộng sản
hay là thuộc tả phái.
Tháng 6 năm 1947, sau một cuộc đi thăm viếng các thủ đô Belgrade,
Prague và Moscou, Zachariadis đả tuyên bố việc sẽ thành lập một chính
phủ '' tự do ''. Các người cộng sản Hy-Lạp tưởng là họ có thể '' tái xữ
dụng '' lại đường lối của TiTo đả xữ dụng 4 năm về trước. Chính phủ ''
tự do '' này được '' chính thức '' thành lập vào tháng 12. Các người
Yougoslave đả cung cấp các chiến sĩ '' tình nguyện '', gần 10 000 người
! lấy ra từ quân đội Yougoslave. Nhiều bản phúc trình điều tra Ủy ban
Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc cho các vùngBalkan đả nêu lên tầm quan
trọng của cuộc viện trợ này cho Đạo Quân Dân Chủ-AD- Xảy ra việc tuyệt
giao giữa Staline và TiTo vào mùa xuân năm 1948 đả đưa đến các hậu quả
chính cho các người cộng-sản Hy Lạp. Nếu các nguồn viện trợ vẩn tiếp
tục được gởi đến các vùng biên giới cho đến mùa thu 1948, TiTo bắt đầu
ra lịnh cho các người lính tình nguyện Yougoslave rút lui và đóng chặt
biên giới. Đến mùa hè, các lực lượng của chính phủ Hy Lạp khởi sự tấn
công rộng lớn, vị lãnh tụ cộng sản Albanie là Enver Hoxha, đả bắt buộc
phải đóng chặt biên giới với Hy Lạp. Các người cộng sản Hy Lạp đả bị cô
lập và các cuộc tranh chấp nội bộ và các niềm bất hòa bắt đầu diễn ra.
Các trận chiến vẫn tiếp diễn cho đến mùa thu năm 1949. Một số các chiến
sĩ cộng sản chạy sang ẩn náu ở Bulgarie và ở các nước Đông Âu, đặc biệt
là ở nước Roumanie và tại Liên bang Sô Viết. Tachkent thủ đô của
Ouzbékistan đả có cả chục ngàn người tị nạn trong số này có 7500 người
cộng sản. Sau cuộc chiến bại, đảng KKE lưu vong, đả thi hành một loạt
'' khai trừ '', đến nổi vào tháng 9 năm 1955đả đưa đến một cuộc tranh
chấp đả xảy ra giữa hai phe ủng hộ và chống đối Zachariadis và đưa đến
các cuộc xung đột dữ dội ; quân đội sô-viết đả phải can thiệp để tái
lập lại trật tự và đả có hàng trăm người bị thương.
Cuộc đón tiếp các người chiến bại, của cuộc nội chiến Hy Lạp, ở Liên
Bang Sô viết lại là một việc nghịch lý vì Staline vào thời điễm này đả
phá hũy cộng đồng người Hy Lạp sinh sống trên đất Nga từ nhiều thế kỷ,
và đến năm 1917, đả được ước lượng khoảng từ 500 000 đến 700 000 người,
phần lớn cư ngụ ở vùng Caucase và dọc theo ven bờ Hắc Hải. Đến năm
1939, cộng đồng người Hy Lạp chỉ còn có khoảng 410 000 người và sang
đến năm 1960 con số này tuột xuống còn 177 000 người. Bắt đầu từ tháng
Chạp năm 1937, Staline đả ra lịnh đưa đi lưu đày 285 000 người Hy Lạp
sống ở các thành phố lớn đả bị đưa đi về các vùng Arkhangelsk, về vùng
thuộc Cộng Hòa Komis và về vùng Tây Bắc Sibérie. Có nhiều người khác đả
trở về Hy Lạp. Và đả cùng vào thời điễm này các ông A. Haitas, cựu thơ
ký của đảng cộng-sản Hy Lạp ( KKE ) và nhà sư phạm J. Jordinis đả bị ''
thủ tiêu '' ở URSS. Năm 1944, mười ngàn người Hy Lạp sinh sống ở vùng
Crimée đả bị tố cáo là đả có các hành động '' thân người Đức '' trong
thời gian chiến tranh, và là các người sống sót của cộng đồng Hy Lạp
ngày xưa, đả bị đưa đi lưu đày ở cộng hòa Kazakhstan. Và đến thánh 4
năm 1940 tất cả các người Hy Lạp đang sinh sống ở Batoum cũng phải chịu
chung một số phận.
Ở các nước thuộc về phương Tây của Âu-Châu ( được gọi tắt là Tây Âu ),
các mưu toan của các đảng cộng sản để cướp lấy chính quyền về tay riêng
cho đảng, nhơn dịp có các cuộc kháng chiến và giải phóng đả bị mau
chóng '' phá vỡ '' vì sự hiện diện của các quân đội Anh Mỹ. Và bắt đầu
vào cuối năm 1944, các chỉ thị của Staline đả khuyến cáo các lực lượng
võ trang của cộng sản và thân cộng sản :'' hảy chôn dấu các vũ khí ,
đạn và chờ đợi một dịp tốt hơn để cướp chính lấy quyền ''. Thẫm quyền này đả được tỏ ra rõ ràng sau
cuộc hội kiến giữa Staline và Maurice Thorez, diển ra tại điện Kremlin
vào ngày 19 tháng 11 năm 1944. Là Tổng thư ký của đảng cộng-sản Pháp,
Thorez đả sống ở Nga, trong suốt thời kỳ xảy ra chiến tranh và sắp sửa
lên đường trở về Pháp.
Số phận của các thiếu nhi
Hy Lạp và con quái vật Minotaure Sô-viết
( Theo truyện thần thoại của Hy-Lạp, Minotaure là một con quái vật, nửa
người nửa con bò mộng. Mổi năm phải tế thần cho Minotaure một thiếu
niên để y dùng vào việc riêng )
Trong lúc xãy ra cuộc nội chiến từ năm 1946 cho đến năm 1948, các người
cộng-sản Hy-Lạp đả kiểm kê tất cả các trẻ em nam và nử từ 3 tuổi đến 14
tuổi, trên toàn thể các vùng mà họ kiễm soát. Tháng 3 năm 1948, tất cả
các trẻ này đều được tập họp về các vùng gần các biên giới và cả chục
ngàn trẻ em được đưa qua các nước Albanie, Yougoslavie và Bulgarie. Các
người dân làng phải đem giấu các trẻ em vào trong các khu rừng. Hội
Hồng Thập Tự sau muôn ngàn khó khăn đả kiễm kê được con số 28 296
trẻ em. Mùa hè năm1948, với các việc tuyệt giao TiTo-Kominform, một số
11 600 trẻ em đả từ Yougoslavie chuyễn qua các nước Tiệp-Khắc, Hung,
Bảo và Ba Lan, bất chấp các lời kháng cáo của chính phủ Hy-Lạp và vào
cuộc họp lần thứ 3 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đả ra một nghị quyết
lên án việc '' bắt cóc '' các trẻ em Hy-Lạp. Tháng 11 năm 1949, Hội
Đồng Liên Hiệp Quốc đả đòi phải đưa các trẻ em Hy-Lạp hồi hương. Tất cả
các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đều không hề được đáp ứng. Các chế độ
cộng sản '' hàng xóm '' đều trả lời là các trẻ em này được sống sung
túc ở nước họ hơn là ở Hy-Lạp ; vắn tắt là các cuộc lưu đày những trẻ
em này là một hành động '' nhơn đạo ''.
Vậy mà, cuộc cưởng bách lưu đày các trẻ em đả diễn ra trong các hoàn
cảnh khốn khổ, thiếu ăn và các chứng bịnh thời khí đả khiến nhiều trẽ
em đả chết. Được tập họp trong các '' làng thiếu nhi '' , các em
ngoài các chương trình học tổng quát phải học tập thêm về
chính trị, nói đơn giản là '' nhồi sọ '' các em. Và bắt đầu từ 13 tuổi,
các em phải lao động như các tiêu chuẩn của người lớn, như việc khẩn
hoang các vùng '' đầm lầy '' ở Hung Gia Lợi, tên vùng là Hartchag. Hậu
ý của các người lãnh đạo cộng sản là đào tạo một thế hệ mới, tuyệt đối
đãu tranh tận tụy cho chủ nghĩa. Việc thất bại đả hiển nhiên xãy ra :
vào năm 1956, một người Hy-Lạp tên Constantinidès đả chiến đãu chống
lại Hồng Quân Sô-Viết và đả tử thương cùng các bạn người Hung. Nhiều
người Hy-Lạp khác đả chạy thoát qua Đông-Đức.
Trong các năm 1950 đến năm 1952 chỉ có 684 trẻ em được trả về cho chính
phủ Hy-Lạp. Đến năm 1963, khoảng 4 000 trẻ em được trả về trong số này
có nhiều em đả sinh ra ở các nước cộng-sản. Ở nước Ba-Lan, cộng đồng
người Hy Lạp vào các năm đầu của thập niên 1980, đả được con số là vài
chục ngàn người. Có một số người tham gia vào phong trào Solidarnosc và
bị cầm tù sau cuộc đảo chánh của tướng Jaruzelski. Sau năm 1989, với
việc dân chủ hóa đang diễn ra, nhiều ngàn người Hy-Lạp ở Ba-Lan đả trở
về nước của họ ( Trích từ : Vấn đề Hy-Lạp trước Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc, bản phúc trình của Ủy-ban đặc biệt cho vùng Balkans, 1950 ).
Sau chiến tranh và cho đến ngày Staline qua đời, các đường lối hành
động bạo ác cùng với các cuộc khủng bố đả được thiết lập trong lòng tổ
chức Komintern từ thời trước khi xãy ra chiến tranh, vẩn được duy trì ở
trong phong trào cộng-sản quốc-tế. Ở Đông Âu, việc đàn áp các người ''
ly khai '', các người có tư tưởng này hay là các người bị khép vào cảnh
'' giả định '' đả diễn ra gắt gao và riêng các vụ xữ án '' gian lận ''
đả được dàn cảnh lớn lao. Cao điễm các cuộc khủng bố đả đạt được khi
xãy ra vụ khũng hoảng giữa Staline và TiTo vào năm 1948. Vì đả từ chối
không chịu tự phục tòng và đả làm tan vỡ quyền uy tối cao của Staline ;
TiTo đả bị gán cho là một tên '' Trotski mới ''. Staline toan tính cho
ám sát TiTo, nhưng TiTo là một con người đa nghi và được sự bảo vệ của
bộ máy nhà nước do ông thiết lập. Vì không thể '' thủ tiêu '' được
TiTo, các đảng cộng-sản liên kết trên thế giới đả lần lượt phát động
các hành động '' phóng đảng '' ( débauche ) các vụ giết người vì chính
trị với tư các tượng trưng và '' khai trừ '' ra khỏi đảng các phần tử
mà họ gán cho là theo '' chủ nghĩa TiTo ''. Nạn nhơn đầu tiên để ''
chuộc tội '' ( expiatoires) là vị Tổng Thư Ký của đảng cộng-sản Na-Uy (
Norvege ) Peder Furubotn một lảo thành viên của tổ chức Komintern, sau
một thời gian lưu trú lâu dài ở Moscou và đả trở về nước vào năm 1938,
nhờ vậy ông mới cứu được mạng sống của ông. Ngày 20 tháng 20 năm 1949,
nhơn một cuộc họp của đảng cộng sản Na-Uy, một đảng viên cộng-sản tay
sai của Moscou tên là Strand Johansen đả tố cáo Furubotn là ngã theo
chủ nghĩa TiTo. Được sự tín nhiệm của nhiều đảng viên cộng sản,
Furubotn liền triệu tập đại hội đảng vào ngày 25 tháng 10 và tuyên bố
từ chức cùng với đoàn thể các thành viên của Ủy ban trung ương đảng với
điều kiện là trong thời gian ngắn phải có một cuộc bầu để có một Ủy ban
trung ương mới và các lời tố cáo ông phải được một Ủy ban quốc tế cộng
sản xét xữ. Các đối thủ của Furubotn đả bị '' hụt giò ''. Ngày hôm sau,
dưới sự ngạc nhiên và phẩn uất của toàn thể các đảng viên cộng sản ,
Johansen và các đảng viên cộng sản thân tín của y, đả xông vào trụ sở
của Ủy ban trung ương , tay cầm súng đả đuổi tất cả các đảng viên thân
Furubotn ra khỏi trụ sở. Và liền sau đó Johansen tổ chức một cuộc họp
và bầu cử khai trừ Furubotn và ông này đả từng biết rõ các lối hành
động của các người cộng sản sô viết, liền '' bế môn tỏa cảng '' ở trong
nhà ông cùng với các bạn ông, tất cả đều có vũ khí để chống cự lại nếu
bị tấn công. Sau các việc đả xãy ra như một film cinéma trinh thám ,
đảng cộng sản Na Uy / PCN đả mất các phần tử đãu tranh nồng cốt và sống
động. Còn về phần Johansen, bị các nhơn viên sô-viết dùng y thử nghiệm
từ mưu toan này đến mưu toan khác đả lần lần mất trí nhớ.
Và màn diễn chót, của các
hành động khũng bố trong phong trào cộng sản, đả diễn ra vào năm 1957,
Imre Nagy, một người cộng sản Hung Gia Lợi, đả một lúc cầm đầu cuộc nổi
loạn vào năm 1956 ở Budapest, ( coi lại chương Karel Bartosek
) phong trào bị đè nát, ông chạy vào tòa Đại sứ Yougoslavie xin
tị nạn và không chịu đi ra, e sợ cho tính mạng của mình. Sau các cuộc
mưu toan quanh co và mờ ám, các người Nga-sô-viết đả bắt được ông và
quyết định đưa ông ra xữ tại Hung-Gia-Lợi. Nhưng không muốn chịu trách
nhiệm về việc sát hại này, đảng cộng sản Hung-Gia-Lợi đả thừa dịp cuộc
Hội Thảo lần thứ nhất của đảng cộng-sản trên thế giới lần thứ nhất nhóm
họp ở Moscou vào tháng 11 năm 1957, để bỏ phiếu lên án tử hình Imre
Nagy, có sự hiện diện của các vị lãnh tụ các đảng cộng-sản, trong đó có
Maurice Thorez người Pháp và Paimiro Togliatti người Italie. Trừ
phiếu chống lại của Gomulka, tổng thư ký đảng cộng sản Ba-Lan. Imre
Nagy bị kết án tử hình và bị treo cổ ngày 16 tháng 6 năm
1958.
Xin
bấm vào số chương dưới đây để xem tiếp 
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| | |
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
|
|