Thời-gian
5 năm, từ đầu năm 1923 cho đến cuối năm 1927, cuộc đối đầu giửa
chính-quyền Bôn-sê-vít và đảng toàn xã-hội đả tạm ngưng. Việc
tranh-giành địa vị để thừa kế Lénine, qua đời ngày 24 tháng giêng
năm 1924, sau một thời-gian bị tê-liệt vì bệnh đứt gân máu ở nảo vào
tháng 3 năm 1923, và trong khoảng tám tháng ông nằm liệt nên ông đả
không tham-gia dược vào một hoạt-động chính-trị gì cả. Cơn bệnh của
Lénine đưa mọi hướng hoạt-động của các lãnh-tụ Bôn-sê-vít tấp trung vào
việc tìm coi ai là người thứa kế để lãnh-đạo Đảng và nhà nước. Nhờ vậy,
mà trong vòng 5 năm, xã-hội Nga có thời-gian để '' băng bó '' lại các
đổ vở.
Trong khoảng thời-gian 5 năm này, Xã-hội của người nông dân họ bao gồm
gần 85% toàn thể các dân-số của nước Nga đả cố lập lại các cuộc trao
đổi để thương-lượng các sản-phẫm của sức lao-động của chính họ và được
sống theo sở nguyện, như theo định-thức đẽp-đẻ của nhà sử-gia lớn
chuyên nghiên-cứu về thân phận của nông-dân Nga. Định-thức mà ông gọi
là : '' Cuộc chuyễn vận trong ảo-tưởng của nông-dân ''. Các người
Bôn-sê-vít đả đặt tên '' ảo-tưởng'' này là Eserovschina, nếu ta
chuyển-nghĩa thì gần như là : ( Tâm trạng xã-hội cách-mạng ), được căn
cứ vào 4 nguyên-tắc và củng là căn-bản của mọi chương-trình hoạt-động
của giới nông-dân từ nhiều thập niên đả qua : Chấm dứt quyền sở-hữu của
các vị điền-chủ và phân chia ruộng đất cho các nông dân tùy theo số
nhơn khẩu của mỗi gia-đình, quyền được tự do định-đoạt cách dùng các
sản-phẫm do các nông-dân tạo ra với sức lao-động của họ, tự do mua bán
và ở các vùng nông-thôn, họ '' tự-quản '' . Nông dân thay mặt cho các
cộng-đồng làng xã với sự hạn chế hiện diện vào việc can-thiệp nôi bộ
tại các làng xã của nhà nước Bôn-sê-vít. Chỉ lập một ban Sô-Viết
cho vài làng và một tổ của Đảng Cộng-sản cho 100 làng.
Được chính-quyền chấp nhận một phần nào đó, được tạm '' dung thứ
'' vì đó là một dấu hiệu '' lạc hậu '' trong một nước mà yếu tố của
kinh-tế thị trường lại chính là nông dân, đả bị gián đọan từ năm 1914
đến năm 1922 vừa được khởi hoạt-động trở lại. Sau các vụ làm mùa, với
thời-gian rảnh-rổi, các nông dân từ các làng quê đổ về các thành-phố để
tỉm việc làm hòng kiếm thêm lợi tức. Việc này đả có từ lâu dười chế độ
Nga hoàng ; các ngành kỹ-nghệ của nhà nước không quan tâm đến việc
sản-xuất các vật dụng cần-thiết cho việc tiêu dùng hàng ngày nhờ vậy
các ngành nghề thủ công nghiệp nơi nông-thôn đả phát-triễn khả quan,
nạn thiếu lương thực và đói kém đả bắt đầu bớt đi và các nông dân đả có
cái ăn hàng ngày.
Sự an-sinh trước mắt không che dấu được các mối bất đồng giửa chế độ
Bôn-sê-vít và xã-hội Nga, vì họ chưa quên các cuộc bạo động mà chính họ
là nạn nhơn. Giá các nông-sản quá hạ và các bất mãn của giới nông dân
quá nhiều, giá các sản-phẫm công-nghệ thì quá cao và lại rất ít ; có
thể gọi là hiếm có vì các sắc thuế quá nặng. Giới nông dân họ có
cảm-tưởng họ là loại công dân hạng thứ hai, so với các người dân ở
thành-phố và đáng kể là các người thợ công nhơn được coi là các người
dân được ưu-đải. Nông dân đả than van rất nhiều về các việc ''
lộng-quyền '' của các cán-bộ đại-diện căn bản của chế-độ Sô-viết ; các
người này được đào-tạo từ môi-trường '' Cộng-sản chiến-tranh ''. Các
cán-bộ này đả lạm dụng tuyệt đối các quyền-lực mà họ đả có được từ xưa
những tập-tục và thói-quen hay từ những chính sách khủng-bố và đàn áp
từ những năm 1918 cho đến 1923. Các cơ-quan hành-chánh, tư pháp và cảnh
sát đều bị hư-hỏng vì nạn say rượu ; nạn đòi hối lộ công khai, nạn quan
liêu và các tư cách bất nhã đối với toàn thể các nông dân. Bản
phúc-trình dài của cơ-quan '' Cảnh-sát chính-trị '' vào cuối năm 1925
đả nhìn-nhận về : tình-trạng hợp-pháp của xã-hội chủ-nghĩa ở nông-thôn
đả xác-nhận các tệ đoan kể trên.
Mặc dù các lãnh-tụ Bôn-sê-vít củng là các người đại diện cho
chính-quyền Sô-viết đả lên án các tệ đoan xảy ra ở nông-thôn nhưng họ
vẫn lo sợ đề phòng là nơi có thể phát-xuất các điều bất lợi và có thể
coi là nguy-hiễm có thể đe dọa đến quyền-lực của họ. Họ coi nơi đây là
nơi : chứa đựng các phần tử koulaks, các người xã-hội cách-mạng, các
linh-mục, các vị cựu địa-dhủ chưa bị thủ-tiêu. Đây là tất cả các lời
được biểu lộ trong một bản phúc-trình của viên chỉ-huy cảnh-sát
chính-trị ở Toula. Và các tài liệu của ngành tình báo nơi cơ-quan
Guépou (tên mới của cơ-quan này thay thế cho tên Tchéka ), củng báo cáo
là các giới thợ công-nhân củng cần phải kiễm-soát gắt gao. Giới thợ
công-nhân được phục-hồi sau những năm xãy ra nội chiến, cách mạng . Họ
vẫn còn gìử được các mội liên-lạc với giới nông thôn thù-nghịch
chính-quyền. Các người '' điềm chỉ '' đả hiện-diện rất nhiều trong các
xí-nghiệp, theo dỏi từ các '' lời nói '' đến các '' hành động '' của
các người thợ công nhơn, coi họ có đi sai hướng chỉ định của
chính-quyền hay không. Các '' Khí sắc nông dân '' được chỉ cho những
người công-nhân đả trở về làm việc trở lại sau những ngày nghỉ hàng năm
mà trở về làng quê, giúp thân nhân của họ làm việc trong những ngày mùa
. Những bản phúc-trình của các cơ-quan cảnh-sát đả phân-tích tỉ-mĩ các
phần-tử chống đối trong giới công-nhân, thường nằm trong hệ-thống ''
tiểu tổ '' của xã-hội cách-mạng và các phần tử lạc hậu về chính-trị này
thường xuất phát từ nông-thôn , được coi là các phần tử hiểu biết về
chính-trị.Những sự đình công và ngưng làm việc thường xãy ra trong các
năm này, vì số người thất-nghiệp lên rất cao. Cuộc sống hàng ngày được
cải-thiện phần nào cho những người có việc làm. Tất cả đều được phân
tích kỹ và các người cầm đầu đều bị bắt.
Ngày hôm nay chúng ta được tham khảo các tài-liệu chính-trị nội bộ của
cơ-quan cảnh-sát , đả cho ta biết là sau nhiều năm cơ quan này
phát-triễn quá mau đả bắt đàu gặp các khó-khăn vì việc tạm ngưng
chương-trình tự-nguyện Bôn-sê-vít để biến đổi cải-cách xã-hội. Trong 2
năm 1924-1926, Dzerjinski đả phải đấu-tranh nhiều với một vài lãnh-tụ
Bôn-sê-vít vì các vị này đả đòi giãm bớt nhân số của các cơ quan Tchéka
vì với việc thay đổi tình-hình được coi như tạm yên. Do vậy, con số
nhân sự này được coi là quá nhiều không còn thích ứng nửa. Và đây là
lần thứ nhất mà sự việc giãm nhơn sự xãy ra rất mạnh bạo. Đến năm 1953
mới lại xãy ra lần thứ hai việc giãm nhơn-viên nghành cảnh-sát
chính-trị. Năm 1921 cơ-quan Tchéka có 105.000 nhơn-viên dân chính và
180.000 nhơn-viên quân-sự đặc-biệt, bao gồm luôn các lực-lượng
biên-giới, các toán Tchéka phụ-trách an-ninh cho các cơ-quan xe hỏa (
đường sắt ) và các toán canh gác các trại tập trung. Qua đến năm 1925,
cơ quan này chỉ còn lại 26000 nhơn viên dân chính và khoảng 60000 ngàn
nhơn-viên quân sự. Công thêm với các con số này còn có thêm lối 30000
người '' điềm chỉ '', so với con số người loại này vào năm 1921, với
các tài-liệu tham-khảo các con số này không được biết rỏ. Tháng chạp
năm 1924, trong thơ của Nikolai Boukharine gởi cho Feliks Dzerjinski,
ông đả viết :'' Chúng ta cần phải chuyễn qua giai đoạn ' tự do hơn '
của chính-quyền Sô-Viết : Bớt đàn áp, các việc làm phải hợp pháp, mở
nhiều cuộc bàn cải, cho tản quyền về các địa phương và lẽ dỉ nhiên phải
dưới sự chỉ-đạo của đảng Cộng-Sản. Vài tháng sau đó, ngày 1 tháng 5 năm
1925 Chủ-Tîch Tòa-Án Cách-Mạng, Nikolai Krylenko người đả chủ-tọa cuộc
xữ-án '' trá hình '' tư-pháp (mascarade) của cuộc xữ-án các người
cách-mạng, đả gởi một bản phúc-trình dài lên bộ-chính-trị đảng Cộng-sản
Nga, ông đả chỉ-trích các việc lạm dụng của cơ quan Guépou đả có những
hành-động vượt quá mức giới-hạn đối với các sắc-luật mà họ có
trọng-trách phải thi-hành. Năm 1922-1923 đả có nhiều sắc-luật được ban
ra với tác-dụng hạn chế các khả-năng của cơ-quan Guépou về các việc
liên-quan đến : ''Gián-điệp, Ăn cướp,Tiền giả và Phản cách-mạng''. Đối
với các tội-ác kể trên, cơ-quan Guepou sẽ là '' Ông Tõa'' duy nhất và
với '' tập đoàn đặc-biệt '' của họ, họ có thể tuyên-án, lưu-đày hay
cưởng-bách cư ngụ để dễ bề kiễm-soát cho tới 3 năm, cho đi tập trung
vào các trại lao-động cưởng-bách hay tối đa là án tử-hình. Năm 1924,
trong số 64000 hồ sơ được cơ-quan Guépou phụ-trách thì 52000 hồ sơ được
chuyễn qua các tòa-án thường. Các cơ-quan tư-pháp của Guépou đả lưu lại
9000 hồ-sơ , một con số quá cao so với hiện-tình chính-trị được coi như
là ổn-đînh. Ông Nikolai Krylenko nhắc lại : : '' Các điều-kiện
sinh-sống của các người bị đüa đi đày ở các vùnghẻo lánh tại Sibérie,
không được cấp phát một đồng tiền nào, các người này đả sống quá
thê-thãm. Trong số này có các sinh-viên tuổi từ 18-19 và các người già
70 tuởi. Thành-phần nhiều hơn hết là các thành-viên củaGiáo-hội và các
phụ-nữ già, họ đýu thuộc vào thành-phần '' nguy hiễm cho xã-hội '' và
Nikolai Krylendo cũng đề-nghị giới hạn việc dùng danh-từ '' phản cách
mạng'', danh-từ này chỉ được dùng riêng cho các đoàn-viên các '' đảng
chính-trị, đại-diện của các quyền lợi kinh-tế của các người trung-lưu
trưởng-giả '' để hầu tránh được việc lạm dụng quá độ các từ này trong
các ngành nơi cơ-quan Guépou.
Đứng trước các sự
chỉ-trích trên, Dzerjinski và các viên phụ-tá của ông đả gởi lên các vị
lãnh-tụ Bôn-sê-vít là những người chỉ-huy cao cấp của Đảng, và riêng
cho Staline, nhiều bản báo-cáo báo động về các rắc-rối nó kéo dài trong
nước Ba-Lan, các nước Baltes, nước Anh, nước Pháp và nước Nhật.
Về bản phúc-trình các hoạt-động của cơ-quan Guépou trong năm 1924
gồm có :
- Bắt giam 11.453 tên ''ăn cướp '' trong số này đả
hành-quyết 1858 tên tại chổ.
- Điều tra 926 người ngoại-quốc và trong số này đả trục-xuất 357 người
ra khỏi nước Nga và bắt giam 1542 tên tội phạm làm '' Gián-điệp ''.
- Đả hành-quân 81 lần chống lại các nhóm'' vô chính-phủ'' và bắt giam
266 người.
- Được điềm chỉ và phá vở một mưu toan nổi-loạn của Bạch-quân ở Crimée,
và đả hành-quyết 132 người trong khuôn-khổ của cuộc mưu-toan nổi dậy
này.
-Đả thanh-toán 14 tổ-chức men-sê-vít và bắt giam 540 người, sáu tổ-chức
cách-mạng xã-hội thiên-hữu và bắt giam 152 người, bảy tổ-chức xã-hội
cách-mạng thiên-tả và bắt giam 52 người, 117 tổ-chức các người trí-thức
đủ loại và bắt giam 1360 người, hai mươi bốn tổ-chức bảo-hoàng và
bắtgiam 1245 người, 85 tổ-chức đạo và giáo phái cùng bắt giam 1765
người, và 675 nhóm người koulaks bắt giam 1148 người.
- Trong 2 cuộc '' ruồng bắt'' lớn diễn ra vào tháng 2 và tháng 7
năm1924 và trục-xuất ra khỏi các thành-phố Moscou và Léningrad khoảng
4500 tên ăn-trộm, các tên tái phạm, các tên đả theo kế-hoạch nepmen
(NEP-các tiểu-thương và các tên thầu khoán nhỏ)
- Đả cho '' kiễm-soát và theo-dỏi chặt-chẻ'' từ mỗi cá nhân, có 18200
người bị xếp vào thành phần '' nguy-hiểm cho xã-hội.
- Đả cho'' canh chừng'' 15.501 xí-nghiệp và cơ-sở hành-chánh.
- Đả đọc và kiễm-duyệt 5.078.114 thư từ và các văn thư liên-lạc đủ loại.
Với các việc làm kể trên đây, với các con số được coi là chính-sác đả
nói lên sự '' lố-bịch trơ-trẻn '' của chế-độ thư lại, vậy có-thể đáng
tin hay không ? Và nằm trong kế-hoạch về ngân-sách của cơ-quan Guépou
cho năm 1925 đả nói lên sự kiện là cơ-quan này sẽ không bớt hay là nới
tay về việc phòng vệ và bảo vệ , đây là nhiệm vụ chính-trị chánh của
cơ-quan cảnh-sát và tương xứng với ngân-sách được cấp phát. Các dữ-kiện
này là tư liệu quý giá đối với các sử-gia , vì ngoài các con số nêu
trên việc hành-sự chuyên-quyền đủ loại tự nó đả nói lên được việc
hành sự thường-trực đối với các kẽ thù có tiềm năng, cơ-quan Guépou có
một vài hệ-thống bớt hoạt-động nhưng vẩn được đặt trong tình-trạng
sẳn-sàng hành-động.
Mặc dầu ngân-sách bị cắt giảm và củng do các lời chỉ-trích không có
kết-quả của các viên lảnh-tụ Bôn-sê-vít, các hoạt-động của cơ-quan
Guépou còn được khuyến-khích bởi các điều mà luật hình-sự được sửa đổi
cho thêm cứng rắn hơn. Căn cứ trên : Các nghuyên-tắc căn-bản nơi
hình-luật củ Liên-Bang Sô-Viết, được chấp thuận ngày 31 tháng 10 năm
1924 và Bộ luật mới về Hình-luật được ban hành năm 1926, đả mmỏ tầm
giải-thích rộng-rải hơn những tội ác bị coi là phản cách-mạng và xếp
thành luật '' các người bị coi là nguy-hiễm cho xã-hội '' mọi hoạt-động
dù không '' nhắm'' thẳng vào việc lật đổ hay làm suy yếu chính-quyền
Sô-Viết và bị coi là phạm nhân đả vi-phạm vào các quyền-lợi đạt được về
chính-trị và kinh-tế của cuộc cách-mạng vô-sản. Như vậy đạo luật này sẽ
trừng-phạt mọi trường hợp bất-chính và cả các mưu-toan hay ý đồ có dính
líu đến các trường-hợp sẽ xãy ra.
Củng bị xếp loại và coi như '' thành phần nguy hiểm cho xã-hội '' tất
cả các cá nhân nào đả làm một hành-động nguy-hiễm đói với xã-hội hay là
có dính líu hoặc liên-quan đến các giới tội ác hay trong quá khứ đả có
một hành-độngnào bị coi là một hiễm nguy. Các người bị chỉ đînh tùy
theo các tiêu-chuẩn rất là co giản có thể bị lên án mặc dầu thiếu các
bằng chứng là thủ-phạm. Và hình luật này còn giải-thích rỏ-ràng là
tòa-án có thể cho thi-hành các biện pháp để bảo vệ xã-hội, các người đả
bị coi là thành-phần nguy hiểm cho xã-hội vì đả vi-phạm một khinh tội
được xác-định, hay trong trường-hợp bị truy-tố đả phạm phải một khinh
tội được xác-định và được tòa-án phán xét là '' vô tội '' vẫn bị coi là
nguy-hiểm cho xã-hội . Tất cả các khuynh-hướng được coi là luật hình sự
của năm 1926 có điều phi-thường, số 28 với 14 phụ chương xác-định các
tội danh '' phản cách mạng ''đả củng cố căn-bản hợp pháp của các cuộc
khủng-bố của chế độ. Ngày 4 tháng 5 năm 1926, Dzerjinski đả gởi một văn
thư cho phụ tá của ông là Iagoda, trong văn thư này ông ta nói về một
chương-trình rộng lớn để '' chống lại các sự đầu cơ '', đả phân-tích
các ranh giới của chính-sách NEP ( tân chính sách kinh-tế chính-trị do
Lénine đề ra ) và tinh-thần cuộc nội-chiến thường trực của các người
lãnh-đạo cao cấp của chế độ, như sau :
''..Cuộc chiến chống lại các sự
đầu cơ có một tính cách quan-trọng cho ngày hôm nay. Chúng ta cần quét
sạch ra khỏi thành phố Moscou các phần tử ăn bám và các bọn đầu cơ. Tôi
đả ra lịnh cho Pauker thu-thập tất cả các tài-liệu hiện đang có về việc
lập phiếu cá nhơn của mổi người dân cư-ngụ tại Moscou để giải-quyết vấn
đề này. Cho đến ngày hôm nay, tôi chưa nhận được gì cả. Đồng chí có
nghỉ rằng chúng ta phải cho thành lập một bộ đặc-biệt để di dân đi khẩn
khoang và ngân-sách đặc-biệt này sẽ cho các số tiền mà chúng ta đả
tịch-thâu, để đài thọ cho công-tác này. Chúng ta sẽ đưa các phần-tử ăn
bám này và gia-đình của họ đến cư-ngụ ở các thành-phố hẻo-lánh và
khổ-cực này ở những vùng xa-xôi của đất nước Nga, theo một kế hoạch đả
được soạn-thảo trước và được sự chấp-thuận của chính-phủ. Chúng ta cần
'' quét sạch '' các thành-phố nơi có nhiều trăm ngàn người '' ăn bám ''
và '' đầu cơ'', họ đang sống sung-túc. Các tên '' ăn hại '' này đang
lủng-đoạn và tiêu-diệt chúng ta. Vì bọn chúng là thủ-phạm đả tạo nên sự
khan hiếm các vật dụng kỹ-nghệ sản-xuất và các hàng-hóa để cung-cấp cho
các người nông dân. Vì chúng giá cả đả leo thang và đòng tiền Rúp đả
mất giá ? Cơ quan Guépou phải ra tay hành-động liền để giải-quyết vấn
đề này với tất cả các nghị-lực của cơ-quan."
Trong các đặc-điễm khác của chế-độ hình-luật Sô-viết
có nói đến sự hình-thành của hai hệ-thống phân biệt truy tố tội phạm :
Một là Tư Pháp, Hai là Hành-Chánh. Và có hai chế độ lao từ : Một do Bộ
Nội-Vụ và Một do cơ quan Guépou đảm-trách. Các nhà tù đả có sẳn một
hệ-thống củ để giam các tội-phạm bị kết-án do các thủ-tục tố-tụng
thường dùng, còn có một hệ-thống các trại tập-trung cưởng bách lao-động
do cơ-quan Guépou quản-lý để giam-cầm các tội phạm bị kết-án do các
thủ-tục tố-tụng đặc-biệt của ngành cảnh-sát chính-trị để xử tất cả các
loại tội trạng thuộc về : Phản cách-mạng dưới mọi hình thức, các tên
đại cường đạo, làm tiền giả và các tội của các nhơn viên cành-sát
chính-trị gây ra.
Năm 1922, chính-phủ đề-nghị lập một trại tập trung lớn ở đảo Solovki,
năm hòn đảo trên Bạch-Hải nằm ngoài khơi vùng Arkhangelsk, và một hòn
đảo lớn có một tu-viện lớn của Giáo-hội Chính-thống Nga. Sau khi đả
đuổi các tu-sĩ ở đây đi nơi khác, cơ-quan Guépou đả tổ-chức ở quần đảo
nhiều trại tập-trung được mang danh là SLON ( Trại đặc-biệt ở Solovki
). Các số tù nhơn đầu tiên được lấy ra từ các trại ở Kholmogory và ở
Pertaminsk đả đến Solovki vào đàu tháng 7 năm 1923. Đến cuối năm con số
các tội nhơn lên đến 4000 người và sang đến năm 1927 con số lên đến
15000 người và cuối năm 1928 là 30000 người.
Một đặc-điễm của các trại ở Solovki là họ áp dụng chế độ '' tự-quản ''
ngoài viên giám-đóc và vài nhơn viên có trách-nhiệm, tất cả các dịch-vụ
của các trại đýu do các phạm nhơn đảm nhận. Các phạm nhân này là cựu
cộng-tác-viên và cựu nhơn-viên của cơ-quan Cảnh-sát chính-trị. Các
hành-động của các loại người này đả đüa đến một kết-quả là việc chuyên
quyền toàn bộ về việc '' tự quản-trị '' và làm tăng thêm các đặc-quyền
hưởng lợi, được thừa hưởng rộng-rải dưới chế độ củ, vì các tù nhơn được
hưởng quy chế là tù nhơn chính-trị.
Với chính-sách NEP,
cơ-quan hành-chánh của Guépou đả phân loại ra ba hạng tù phạm.
Hạng thí nhất bao gồm các
tù-phạm thuộc về chính-trị, riêng biệt cho các cựu
đảng-viên của đảng Men-sê-vít, xã-hội cách-mạng và '' vô-chính-phủ '',
các tù phạm này đả đòi được ở Dzerjinski và được hưởng một chế-độ
chính-trị khoan hồng vì Dzerjinski củng đả là tủ-phạm chính-trị và đả ở
tù 10 năm luôn cả thời-gian bị đưa di lưu-đày. Họ được hưởng một
khẩu-phần ăn gọi là '' khẩu phần chính-trị '', được quyền giử một vài
vật dụng dùng cho cá nhân, có quyền được nhận báo chí của thơn nhơn gởi
vào và không bị bắt buộc làm các việc khổ sai. Đến cuối thập niên 20,
quy chế này bị bải bỏ.
Hạnh
hai là hạng đông tù phạm nhiều hơn các hạng khác gồm có các thành phần
'' phản cách-mạng '' : đoàn-viên các đảng không thuộc phe xã-hội
hay vô chính-phủ, các thành-viên của giáo-hội, các cựu sĩ-quan của Nga
Hoàng, các cựu công-chức, các người Cosaque, các người đả tham dự vào
cuộc nổi loạn ở Kronstadt và ở Tambov, và tất cả các người bị tuyên án
theo điều luật số 58 của luật hình-sự.
Hạng
thứ ba gồm các tù phạm thuộc luật thường phạm như : ăn cướp, làm tiền
giả do các tòa án Guépou kết-án và những cựu nhơn viên của cơ-quan
Tchéka mang các tội loại thường phạm và vi phạm các tội của cơ-quan này.
Những người '' Phản cách-mạng '' bị giam chung với các người này và
những người tù phạm thuộc loại luật thường phạm họ tác yêu, tác quái
trong trại giam, các người '' phản cách-mạng '' phải chịu đựng rất
nhiều sự chuyên-chế hoàn toàn, khổ-cực, phải chịu đói vì phần ăn của họ
đả bị những người kia cướp đoạt, với thời tiết quá lạnh vào mùa Đông và
qua mùa Hè phải chịu đựng nạn muổi cắn vì vùng này có quá nhiều ao, hồ.
Một hình-thức tra tấn thường diễn ra ở nơi dây là bắt các nạn-nhơn ở
nơi đây cởi bỏ tất cả quần áo và trói họ lại rồi bắt đùng cả đêm ở
ngoài rừng để cho muổi chích. Khi bị bắt buộc phải di chuyển từ trại
này qua trại khác, các tù phạm xin được trói hai tay về phía sau lưng,
và đó là điều được ghi ở trong bản điều lệ của trại-giam. Đó là cách
duy nhất tự-vệ của tù phạm, để khỏi phải bị giết vì lý do muốn tẩu
thoát. Và sau khi đả hạ-sát một tù phạm chỉ cần một báo cáo '' cộc lốc
'' như vậy. Nhà văn có danh ở trong đám các tù phạm tại Solovki tên
Varlam Chalamov, ông thuộc loại các tù phạm về chính-trị và đả viết lên
các thãm trạng xãy ra ở nơi này.
Và với các kinh-nghiệm khai-thác sức lao động khổ-sai của các
người từ ở Solovki của cơ-quan Guépou trong những năm nội-chiến, và
phương-pháp xữ dụng hình-phạt khổ-sai lao-động đả phát-triển triệt để
vào các năm 1929. Trong thời-gian từ khi các trại này được thiết-lập,
các tù phạm được xữ dụng rất ít vào các việc làm sản-xuất ở trong vòng
các trại, cho đến năm 1925. Bắt đầu từ năm 1926, ban biám-đóc của trại
tù ở Solovki đả ký các khế-ước để sản-xuất với các cợquan quốc-doanh và
khai-thác hợp-lý nguồn lao-động khổ-sai này thành được một nguồn lợi và
không giống như các năm 1919-1920 khác với lý-thuyết khi các trại tập
trung đàu tiên được thành-lập là : '' Lao-động sửa sai '' và để '' tái
cải-huấn '' các tù-phạm . Được tái tổ-chức dưới danh-xưng USLON (
Direstion des camps spéciaux du Nord ), Ban lãnh-đạo các trại-giam
đặc-biệt ở miền Bắc. ; các trại-giam đặc-biệt Solovki được thiết lập
thêm rất nhiều nằm rải-rác trên lục địa và khởi đầu ở các vùng ven Bạch
Hải. Năm 1926-1927 nhiều trại mới được thiết-lập ở cửa sông Petchora, ở
vùng Kem và ở nhiều vùng '' đất độc '' ở các ven biển không có người
sinh-sống, và đi vào phía sâu trong các vùng này có toàn là những khu
rừng gổ để khai-thác. Các tù nhân phải được thực-hành một
kế-hoạch và chương-trình sản-xuất và phải thực hiện đủ số cây gổ
được hạ xuống và đúng thời hạn chỉ định. Các chương-trình sản-xuất với
chỉ số gia-tăng việc cung cấp gổ cho các cơ-quan quốc doanh nên cần
thêm một số tù-phạm, và số tù phạm này gia-tăng rất mau và rất nhiều.
Vì yếu tố kể trên, bắt đầu từ năm 1929, tất cả các người tù phạm nào bị
kết án trên 3 năm đều bị đüa đi về các trại lao-động khổ-sai để
tham-gia vào việc sản-xuất và cung-cấp '' cây-gổ '' cho các khế-ước đả
được ký kết. Biện pháp này đả làm phát-triễn thêm các trại lao-động
khổ-sai. Đây là nơi mà có thể nói là '' phòng thí nghiệm '' về lao động
khổ-sai, các trại tập trung đặc-biệt ở quần đảo Solovki là '' khuôn-khổ
'' của một bán đảo khác đang được '' thai nghén '' một quần đảo bao la
nằm trên toàn một lục địa đó là : Quần đảo Goulag
Hàng năm cơ-quan Guépou lên án vài ngàn người bị đüa đi đày vào các
trại tập trung '' lao động khổ sai '' hoặc là bị '' quản thúc tại gia
'' hoặc cưởng bách đi ở các nơi cư-ngụ khác. đó là các hoạt-động
bình-thường của cơ-quan này. Ngoài ra họ còn mở các cuộc hành quân lớn
đàn-áp với các chỉ tiêu đặc biệt. Trong những năm từ 1923 đến 1927 tình
thế tạm lắng yên, nhờ chính sách NEP tại nước Nga, thì trên thực tế
những nước ở các vùng Liên-Trung-Á và ở Trung-Á ( Transcaucasie
và Asie centrale ). Các cuộc hành quân lớn để đàn-áp các phần tử chống
đói đả diễn ra với từng giai-đoạn đàn-áp rộng lớn và đẩm máu. Các nước
và các sắc dân ở các vùng này đả chống đối lại dữ-tợn các cuộc chinh
phục của người Nga hồi thế kỹ 19 và đả bị các người Bôn-sê-vít tái
chiếm lại : Xứ Azerbaidjan bị tái chiếm vào tháng 4 năm 1920, Xứ
Arménie bị tái chiếm vào tháng 12 năm 1920, xứ Géorgie bị tái
chiếm vào tháng 2 năm 1920, xứ Daguestan vào cuối năm 1921, xứ
Turkestan với Boukhara vào mùa Thu năm 1920. Họ tiếp tục chống cự lại
mảnh liệt với việc Sô-viết hóa. Tháng Giêng năm 1923 Peters, ủy-viên
toàn-quyền chỉ huy các cuộc hành quân tái chiếm các vùng nói trên đả
báo cáo : '' Chúng tôi chỉ kiễm-soát các thành phố lớn ở vùng
Turkestan. Từ năm 1918 cho đến cuối năm 1920 và trong một vài vùng được
kéo dài cho đến năm 1935-1936, một phần lớn của vùng Trung-Á, trừ các
thành phố lớn, còn do các người basmatchis kiễm-soát. Danh từ
batmaschi ( ăn cướp , tiếng của sắc tộc Ouzbek ), mà người Nga dùng để
chỉ cho tất cả các sắc-tộc Ouzbeks, Kirghiz, Turkmènes, các sắc-tộc này
hoạt động riêng rẻ ở nhiếu vùng khác nhau.
Tụ điễm chính của cuộc nổi loạn là ở các vùng thung-lũng Fergana. Sau
khi tái chiếm được Boukhara vào tháng 9 năm 1920, Hòng quân phải đương
đầu với các cuộc nổi loạn lan tràn về các vùng phía Đông và phía Nam
của cựu tiểu quốc Boukhara và các vùng phía Bắc của các đồng cỏ
Turkmènes. Các chiến sĩ Basmatchis gồm có các sắc dân đả định cư cùng
với các sắc dân du-mục. Đầu năm 1921, bộ tham mưu của Hònh-quân đả ước
lượng số người đả chống lại họ lên đến 30000 người có võ-trang. Các
người chỉ-huy các cuộc nổi loạn này không được đòng nhất. Có nơi thì là
những thân hào của các làng xã, các tù-trưởng hay là các vị lãnh đạo
tôn-giáo truyền thống và củng có các người quốc-gia Hòi-giáo họ không
thuộc các sắc dân nói trên như : '' Ông Enver Pacha, cựu
Bộ-Trưởng-Quốc-Phòng của Thổ-Nhỉ-Kỳ đả tử-trận vào năm 1922 lúc
giao-chiến với các lực lượng vũ-trang của cơ-quan Tcheka. Các
cuộc nổi loạn của các toán quân basmatchis chỉ có tính cách bất giác,
tự nhiên chống lại các người '' bất-trung '' ( danh từ của Hồi-giáo chỉ
vào những người không cùng đạo ), bọn '' áp bức '' người Nga kẽ thù củ
tái xuất hiện dưới hình thức mới vì các kẽ thù này cướp đoạt đất đai,
các súc vật của họ mà lại còn phạm vào '' thế giới tâm linh '' của các
người Hồi-Giáo. Trận chiến-tranh bình-đînh này có tính chất '' thuộc
địa '' và các người basmatchis đả chống cự lại ròng rả 10 năm, đối đầu
với các đạo quân của Hòng-quân và các lực-lượng đặc biệt của cảnh-sát
chính-trị dưới sự chỉ huy của Bộ Đông Phương của cơ-quan Tcheka. Đến
ngày hôm nay, rất khó mà ước lượng dù với con số phỏng chừng, số nạn
nhơn của các trận chiến đả xảy ra ở các vùng kể trên.
Khu vực lớn thứ hai do Bộ Đông Phương của cơ-quan Tcheka ( Guépéou ) là
vùng Transcaucasie. Trong vòng 5 năm bắt đầu từ năm 1920, các vùng đất
Daguestan, Géorgie và Tchéchénie đả bị đàn áp củng như các vùng ở
Trung-Á. Vùng đất Daguestan đả chống cự lại đến cuối năm 1921. Dưới sự
lảnh đạo của cheikh Uzun Hadji ( lảnh tụ tôn-giáo ) của hội đạo
Hòi-giáo của các người Nakchbandis, họ đả chủ-động các người sơn-cước
và cuộc chiến đãu mang tính cách một cuộc '' thánh-chiến '' chống lại
những người Nga Xâm lăng. Cuộc chống cự kéo dài suốt một năm và có vài
vùng chỉ được '' bình-đînh '' vào năm 1923 sau khi các người Bôn-sê-vít
cho phi cơ oanh-tạc các khu vực rộng lớn và tàn sát các người dân
thường.
Sau 3 năm sống độc lập với một chính phủ Men-sê-vít, vùng Géorgie đả bị
Hòng-quân chiếm đóng vào tháng Giêng năm 1921. Alexandre Miasnikov,
thơ-ký của ũy ban Bolchevique của vùng Transcaucasie đả tuyên bố đây là
'' một vụ khó khăn ''. Đảng Bôn-sê-vít địa phương chỉ quy tụ được lối
10000 đảng viên trong thời gian suốt 3 năm dưới chính-phủ Men-sê-vít.
Họ phải đương đầu với một từng lớp trí thức và cựu quý tộc gồm có gần
100000 người, các số người này thuộc loại chống Bôn-sê-vít. Thêm vào
còn có một mạng lưới mạnh mẽ người men-sê-vít bởi vì đảng Men-sê-vít
vào năm 1920 đả có 60000 đảng viên. Mặc dầu dưới sự chỉ huy của một
uỹ-viên của cơ-quan Tchéka Lavrenti Beria mới có 25 tuổi, một người sẽ
có được tương lai quan-trọng, cuộc đàn áp đả diển ra với sự tàn ác quá
sức tưởng-tượng vì cơ quan Tcheka ở đây được quyền tự-trị, không chịu
sự chi phối của trung-ương ở Moscou. Các người Men-sê-vít bị lưu
đày vào cuối năm 1922 đả hợp tác với các tổ chức chống Bôn-sê-vít khác,
tổ chức một Uỹ Ban Bí Măt dành độc-lập cho vùng Géorgie để nổi loạn.
Khởi loạn được bắt đầu vào ngày 28 tháng 8 năm 1924 ở tỉnh nhỏ
Tchiatoura, và trong vòng 5 ngày sau đó cuộc nổi loạn lan tràn ra khắp
25 địa hạt ở vùng Gourie, và số đông các người nông dân đả tham dự cuộc
nổi loạn này. Cuộc nổi loạn này đả bị dẹp tan trong vòng một tuần lễ vì
các lực lượng Hồng-quân có quá nhiều lính và họ lại có thêm phi-cơ oanh
tạc và pháo-binh yễm trợ. Sergo Ordjonikidze, đệ nhứt bí thư của Ủy ban
Đảng bôn-sê-vít vùng Transcaucasie và Lavrenti Beria lấy cớ về cuộc nổi
loạn này để : Thanh toán một lần cho dứt khoát các người Men-sê-ví và
các quý-tộc gốc người Géorgie. Với các con số ghi trên các văn thư vừa
được cho phép tham khảo, 12578 người đả bị xử bắn trong thời-gian từ
ngày 29 tháng 8 năm 1924 cho đến ngày 5 tháng 9 năm 1924. Tính rộng lớn
của cuộc đàn áp này đả làm Bộ-Chính-Trị của đảng Bôn-sê-vít súc động.
Ban lãnh đạo của Bộ-Chính-Trị liền kêu gọi Đảng bộ địa phương trở về
trật tự, và ngưng các cuộc tàn sát một số lớn vì không tương ứng cùng
với cuộc nổi loạn, đùng hành quyết các người chính-trị mà không được ũy
ban trung-ưöng cho phép. Nhưng các vụ hành quyết đon giản tiếp tục
trong nhiều thang. Vào cuộc họp toàn đảng của Ũy Ban Trung Ương ở
Moscou vào tháng 10 năm 1924, Sergo Ordjonikidze, đả báo cáo '' Có lẽ
chúng tôi đả hành động hơi quá đáng, nhưng không thể không có một cái
gì cả ''.
Một năm sau các cuộc đàn áp tháng 8 năm 1924 chống lại các người nổi
loạn ở Géoegie, chế độ lại cho thi hành một cuộc hành quân lớn để ''
bình đînh ' ở vùng Tchétchénie, nơi đây ai củng nói là chính quyền
So-viết không có nơi đây . Từ ngàby 17 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 năm
1925, trên 10 000 Hòng quân dưới sự chỉ huy của tướng Ouborecitch, với
sự yễm trợ nơi cánh quân lực lượng đặc biệt của cơ quan Guépou, bắt đầu
tước vỏ khí các thân binh người Tchetchène. Cả chục ngàn vũ khí đả bị
tịch thu và 1000 tên ' ăn cướp ' đả bị bắt giam. Trước sự kháng cự của
dân chúng viên chỉ huy Guépou tên Ounchlicht, đả nhìn nhận là phải kêu
pháo binh nặng và phi cơ oanh-tạc các '' tổ kháng cự của bọn ăn cướp
''. Cuộc bình đînh ở vùng này được diễn ra vào thời điễm mà người ta
gọi là '' cực điễm của chính-sách NEP '', trong bản phúc-trình
Ounchlicht đả viết : '' Qua các kinh nghiệm chiến đãu chống lại bọn
basmatchis ở Turkestan, chống lại bọn '' ăn cướp ' ở Ukraine, ở tỉnh
Tambov và các nơi khác, các cuộc đàn áp dùng quân lực chỉ có hiệu lực
với cách là phải được Sô-viết hóa ở tại các nơi này và cần đi xâu vào
các vùng hẻo lánh xa-xôi ''.
Cuối năm 1926,sau cái chết của Dzerjinski, cánh tay mặt của ông là
Viatcheslav Rudolfovitch Menjinski, người gốc Ba-Lan củng như
Dzerjinski, đả được Staline cất nhắc lên làm chỉ-huy cơ-quan Guépou.
Lúc này Staline đang âm-thầm mưu toan chống lại Trotski và Boukharine.
Tháng Giêng năm 1927, cơ-quan Guépou được lịnh thi-hành mau lẹ việc lập
các phiếu cá nhơn các '' thành phần nguy-hiễm đối với xã-hội và chống
lại sô-viết '', ở các thôn quê. Trong vòng một năm con số người bị ghi
vào các phiếu từ khoảng 30 000 tăng lên 72 000 người. Đến tháng 9 năm
1927, cơ-quan Guépou đả cho phát động trong nhiều tỉnh, nhiều đợt bắt
giam các người koulaks và '' các phần tử nguy hiểm đối với xã-hội ''.
Các đợt lùng bắt này được coi là cuộc thí-nghiệm đầu tiên hay là các
cuộc thực-tập dự bị cho cuộc '' bố ráp '' lớn để thi-hành kế-hoạch ''
giải-thể các người koulaks '', sẽ được phát động vào mùa Đông 1929-1930.
Năm 1926-1927, cơ-quan Guépou củng tích cực hoạt-động trong việc lùng
bắt các người chống đối chế độ cộng-sản và gán cho các người này
danh-từ thân Zinoviev hay là trốt-kít. Việc thực thi làm phiếu cá-nhơn
để theo dỏi các người chống cộng đả được bắt đầu sớm hơn vào các năm
1921-1922. Tháng 9 năm 1923, Dzerjinski đả đề-nghị siết chặt lại ý-thức
chủ-nghỉa của Đảng. Các người cộng-sản phải cam-kết báo cho cơ-quan
cảnh-sát chính-trị mọi tin-tức mà họ biết về sự hiện-diện của các
thành-phần sai-lệch, xét lại ở trong lòng Đảng. Đề nghị này bị một sự
phản đối của một số lảnh tụ, trong đó có Trotski. Nhưng thói quen cho
canh chừng các người chống đối đả được phổ biến rộng rải các năm sau
đó. Cuộc thanh-trừng ( purge ) của tổ-chức cộng-sản của thành-phố
Léningrad, do Zinoviev chỉ huy ; xảy ra vào tháng Giêng và tháng 2 năm
1926 đả làm liên lụy nhiều vào cơ-quan Guépou. Các người chống đối
không những bị đuổi ra khỏi đảng và vài trăm người trong số này bị bắt
buộc đi lưu đày ở các thành-phố xa-xôi và số phận của họ rất là bấp
bênh vì không một ai giám cho họ một việc làm để kiếm sống. Đến năm
1927, cuộc lùng bắt các người bị liệt vào danh sách là trốt-kít, có độ
vài ngàn người, đả huy động trong nhiều tháng vào một phần các cơ sở
của cơ quan Guépou. Tất cả những người này đả bị ghi tên vào các
phiếu cá nhơn, hàng trăm người trốt-kít đang hoạt động bị bắt đưa đi
đày ở nơi khác bằng các biện pháp hành chánh. Vào tháng 11 năm 1927,
các lãnh tụ Bôn-sê-vít chống đối lại Staline là : Trotski, Zinoviev,
Kamenev, Radek, Rakovski, đều bị khai trừ ra khỏi Đảng và bị bắt giam.
Tất cả mọi người nào từ chối làm tờ tự kiễm thảo công khai, đều bị đưa
đi lưu đày. Ngày 19 tháng Giêng năm 1928, báo Prava đả loan tin Trotski
và một nhóm 30 người chống đối, bị đày đi Alma-Ata. Một năm sau Trotski
bị trục xuất ra khỏi Liên-Bang Cộng-hòa Sô-viết. Việc biến đổi một nhân
vật chính tạo ra cuộc khủng bố Bôn-sê-vít , thành ra một người phản
cách mạng là một chặn đường mới được vượt qua, với trách nhiệm của
người hùng mới của Đảng : Staline.
Đầu năm 1928, sau
khi loại trừ phe Trotski chống đối lại chủ trương của phe Staline, đa
số đảng viên của Bộ Chính-trị của Trung-Ương Đảng Cộng-sản Sô-viết đả
quyết đînh chấm dứt cuộc '' hưu chiến '' chống lại toàn xã-hội Nga vì
xã-hội này trên con đường '' tiến-triễn '' đả đang đi khác với những
kế-hoạch của người Bôn-sê-vít mong muốn đạt được.
Củng giống như những gì đả xảy ra ở 10 năm về trước, kẽ thù chính vẫn
là giới nông dân mà các người Bôn-sê-vít coi là một khối người không
thể kiễm-soát được, chống đối họ và vô kỹ-luật. Và khởi điễm của cuộc
nội-chiến '' thứ hai '' chống lại toàn khối các người '' nông dân ''
như sử gia Andrea Graziosi đả nhận định và lần này các diễn tiến sẽ
khác hơn lần trước. Tất cả các sáng kiến đều do nhà nước phát động, các
thành phần xã-hội không còn có khả năng để phản ứng và các cuộc chống
đối chỉ yếu dần đi không còn gây được một ảnh hưởng gì cả.
Sau các tai biến xảy ra trong những năm 1918-1922, nên nông nghiệp đả
có thể coi như là toàn thể phục hồi ; '' những người nông dân '' bị coi
như là các '' kẻ thù của chế độ '' đang suy yếu toàn thể và nhà nước đả
trở thành mạnh hơn vào những cuối năm của thập niên 20. Chính quyền đả
nắm vững tình thế và hiểu biết những việc gì đả diển ra ở các làm xóm,
việc thiết lập các phiếu cá nhơn các người bị xếp vào loại '' thành
phần nguy hiễm cho xã-hội cư ngụ ngoài các thôn làng ''. Các yếu tố này
đả cho phép cơ-quan Guépou hành động hữu-hiệu khi họ cho thi hành các
cuộc '' bố ráp '' (rafles) đầu tiên trong chiến dịch '' giải thể người
koulak '', việc '' tiêu diệt lũy tiến '' và '' thực sự '' các người
nông dân chống đối bị gán cho từ '' ăn cướp '', tước đoạt các vũ khí
của các người nông dân và việc trưng binh khi cần trong các cuộc hành
quân. Với con số người phục tòng chịu lịnh trưng binh và việc phát
triễn một hệ thống bao vây và kiễm soát các trường học. Căn cứ trên các
văn thư liên lạc giửa các người lảnh đạo bôn-sê-vít và các bài viết '
bằng chử viết tắt '' tóm tắc các lời phát biểu của các người này, dưới
sự giám sát của Staline, và củng có khi với sự hiện diện của các
người chống đối là : Kamenev, Rykov và Boukharine họ củng đả đo lường
được các hậu quả mà xã-hội sẽ phải gánh chịu khi các cuộc tấn công đầu
tiên được phát động vào năm 1928, vào toàn thể khối nông dân.
Boukharine đả viết xong một văn thơ gởi cho Staline : Tôi báo trước cho
đồng chí là sẽ xảy ra một cuộc chiến ở nông thôn. Nhưng Staline đả
sẳn-sàng chấp nhận , dù phải trả với mọi giá và lần này chế độ sẽ chiến
thắng.
Việc thu mua các sản phẫm nông nghiệp vào năm 1927 đả gặp cơn khủng
hoảng ; Staline viện cớ này và củng là điều ông mong muốn. Tháng 11 năm
1927, số lượng nông sản do các cơ-quan thu mua của nhà nước, đả ít đi
quá mức và qua đến tháng 12 thì số lượng này đả tụt xuống một cách thê
thãm. Đến qua tháng Giêng năm 1928, mặc dầu được mùa, các cơ-quan thu
mua chỉ thâu đạt được có 4.800.000 tấn nông sản thay vì năm trước đả
thâu đạt được 6.800.000 tấn. Vì giá mua quá hạ do nhà nước định giá,
ngược lại giá các sản-phẫm kỹ-nghệ do nhà nước cung cấp lại quá cao và
khan hiếm. Các cơ-quan thu mua của nhà nước bị xáo-trộn vì có tin đồn
là sẽ xảy ra '' nội chiến '' và toàn thể khối các người nông dân đều ''
bất mản '' vì cuộc khủng hoảng này. Với các diễn tiến trên Staline coi
đó là cuộc '' đình công của người koulak ''.
Nhóm các lảnh tụ phe Staline viện cớ vì các diễn biến ở trên, để lập
lại các tổ trưng dụng và cho thi hành nhiều biện pháp đàn áp đả được
thực-hiện vào thời '' chiến-tranh của cộng-sản '' đả xảy ra mấy năm về
trước. Staline đích thân đi thăm vùng Sibérie. Các người lảnh tụ
khác : Andreiev, Mikoian, Postychev hay Kossior, đi tham quan các địa
phương sản xuất nhiều nông-sản, các vùng đất đen là vùng Ukraine và
phía Bắc vùng Caucase. Một văn thơ của Bộ Chính-Trị của
Trung-Ương Đảng Cộng-sản đề ngày 14 tháng Giêng năm 1928 gởi cho các
chính-quyền địa-phương, ra lịnh cho họ phải bắt giam những người '' đầu
cơ '', các người koulak và các người '' phá rối thị trường '' cùng ''
chính sách giá cả ''. Và củng giống thời-gian năm 1918-1922, chính-sách
trưng dụng được áp dụng, các viên '' toàn quyền '' được phái đi, cùng
các phân đoàn lảnh-tụ cộng-sản, về các vùng nông-thôn để '' thanh-trừng
'' các chính-quyền địa phương bị coi là quá '' dể dải '' đối với các
người koulak. Các vị toàn quyền này hứa với các người nông dân rằng nếu
họ tố cáo các nơi cất giấu các nông sản, họ sẽ được thưởng cho một phần
tư các nông-sản giấu diếm được tịch thâu từ các người nông dân đả dấu.
Để trừng phạt các người nông dân '' cứng đầu '' nhiều biện pháp đả được
nghỉ ra. Nếu họ không chịu giao nạp số nông-sản mà họ bị bắt buộc phải
giao nạp cho các tổ thu mua và được trả '' rẻ hơn '' từ 4 đến 5 lần so
với giá trên thị trường, thì họ sẽ bị phạt như sau '' thay vì
phải nạp cho đủ số 1 tấn được chỉ định ; họ sẽ bị phạt là phải nạp từ
2, 3 hoặc 4 tấn. Điều 107 bộ Hình-luật Sô-viết đả dự định là sẽ bị kết
án ba năm tù giam mọi hành động làm giá cả gia tăng đả được áp dụng bừa
bải. Và sau hết là các sắc thuế dành cho các người koulak đả được tăng
lên gấp 10 lần trong vòng 2 năm. Người ta ra lịnh cấm '' họp chợ '',
biện pháp này không có ảnh hưởng đến các người nông dân khá giả. Trong
vòng vài tuần lể, các biện pháp kể trên đả làm tan vở tình thế '' tạm
ngưng đấu tranh '' được diễn ra từ các năm 1922-1923 để giảm đi các mối
xung khắc giửa chế độ với các nông dân. Các cuộc trưng dụng và các biện
pháp đàn áp chỉ tạo thêm các đổ vở cho cuộc khủng hoảng ; liền khi ấy
chính quyền đả dùng vũ-lực và các tổ thu mua chỉ thu được một số
nông-sản kém hơn một ít số nông sản đả thu mua được vào năm 1927. Để
phản ứng lại, người nông dân đả tự giãm bớt diện tích canh-tác trồng
các ngũ cốc.
Cơn '' khủng hoảng thu mua '' đả xảy ra vào mùa Đông 1927-1928 đả đóng
một vai trò quyết định cho các diển biến của đời sống xã-hội về sau :
Và vì thế, Staline sau khi đả nghiên cứu nhiều bài kết luận về việc
phải cho thành lập các '' pháo đài của chủ-nghỉa xã-hội '' ở các vùng
nông thôn, các hợp tác xã sản xuất nông-nghiệp ( kolkhozes ) và các
nông trại lớn sản xuất nông nghiệp ( sovkhozes ) và tất cả đều là tài
sản của nhà nước, thi hành '' tập thể hóa '' nền nông-nghiệp để dể bề
kiễm soát các sản lượng nông sản sản xuất ra và kiễm soát các người sản
xuất ra các nông sản để khỏi phải chịu các luật của kinh tế thị trường.
Và sau hết là để trừ bỏ '' các người koulak '' và '' tiêu diệt họ ''
như là một giai cấp.
Năm 1928, chế độ củng chấm dứt tình-trạng '' tạm ngưng đấu tranh '' đối
với một giai cấp xã-hội khác, các người '' spetzy '' các chuyên viên ''
trung lưu trưởng giả '' xuất phát từ giới trí thức của chế độ củ, vì
vào các năm cuối thập niên 20, họ còn được lưu dụng ở các chổ quan
trọng ở các xí-nghiệp quốc doanh và các cơ-quan hành chánh. Nhơn cuộc
họp các lảnh tụ của Ủy Ban Trung Ương Đảng vào tháng 4 năm 1928, ủy ban
này đả ra một thông báo là vừa '' khám phá '' ra '' một âm mưu phá hoại
kỹ-nghệ '' ở trong vùng Chakhty, một vùng mỏ than ở Donbass, xảy ra tại
đại xí nghiệp hổn hợp gan thép Donougol còn lưu dụng nhiều '' chuyên
viên trung lưu trưởng giả '' và đại xí-nghiệp này còn có nhiều liên-lạc
tài chính với các giới tài chính phương Tây. Vài tuần lể sau, năm mươi
ba người bị cáo, phần lớn là các kỹ-sư và các chuyên viên điều-khiển
xí-nghiệp, bị đưa ra trước tòa án có sự hiện diện của công chúng và là
phiên tòa đầu tiên từ khi có những vụ xữ án các người xã-hội cách mạng
vào năm 1922. Mười một người bị cáo bị lên án tử hình và 5 người đả bị
hành quyết. Các cuộc xử án gương mẫu này, được các báo chí đăng đi,
đăng lại rất lâu đả nêu lên các '' huyền thoại '' của chế độ, đó là ''
các tên phá hoại, tay sai ăn lương của ngoại bang '' và huyền thoại này
nó động viên các lãnh tụ cùng các người '' điềm chỉ '' của cơ-quan
Guépou. Để giải-thích mọi thất bại về kinh tế, và luôn để '' trưng dụng
'' các '' chuyên viên mới '' cho các văn phòng mới lập của '' ngành xây
dựng đặc biệt '' của cơ quan Guépou được biết với danh xưng là :
Charachki. Cả ngàn người kỹ-sư và chuyên viên bị kết án phá hoại đả thọ
án của họ ở các nông trường và ở các xí nghiệp hàng đầu. Những tháng
sau cuộc xử án ở Chakhty, ngành phụ trách kinh tế của cơ quan Guépou đả
'' tạo ra nhiệm vụ xử án tương tự '' ở Ukraine. Riêng ở đại xí nghiệp
luyện kim Iougostal ở vùng Dniepropetrovsk, đả có 112 người chuyên viên
bị bắt vào tháng 5 năm 1928. Không riêng gì các chuyên viên điều khiển
các xí nghiệp là nạn nhơn của các chiến dịch '' chống các chuyên viên
'' được phát động vào năm 1928. Nhiều giáo sư và sinh-viên bị '' đuổi
'' ra khỏi ngành giáo dục cao đẳng vì họ thuộc thành phần '' xã hội
ngoại lai '' trong nhiều đợt thanh-trừng được phát động tại các trường
đại học để '' thăng trật '' trong một đợt '' các người trí-thức Đỏ và
vô sản ''.
Với lối hành sự '' cứng rắn '' hơn các cuộc đàn áp và các khó khăn về
kinh tế của những năm sau cùng của chính sách NEP, thêm vào nạn thất
nghiệp gia tăng, các tệ đoan xã-hội củng nhiều hơn khiến các khinh tội
củng gia tăng. Các vụ tuyên án về tội phạm hình đả gia tăng một cách
ngoạn mục : '' 578 000 vụ vào năm 1926, 709 000 vụ vào năm 1927, 909
000 vụ vào năm 1928 và 1 178 000 vụ vào năm 1929 !.. Các nhà tù bị đầy
nghẹt các tù phạm vì khả năng chứa các nhà tù này chỉ có thể chứa tối
đa lối 150 000 người. Để giải tỏa các nhà tù và để thích ứng với số tù
nhân gia tăng, vào năm 1928 chính phủ đả đưa ra hai quyết nghị quan
trọng. Quyết-nghị thứ nhất là ban hành đạo luật ngày 26 tháng 3
năm 1928 : '' đối với các tội phạm nhẹ, các người bị án sẽ được giam
trong một thời gian ngắn sau đó, phải đi phục vụ '' cải tạo '' không
lãnh lương ở các xí nghiệp, các công trường xây dựng hay là khai thác
lâm nghiệp ''. Quyết-đinh thứ hai là đạo luật được ban hành vào ngày 27
tháng 6 năm 1929, và đả có nhiều kết quả rộng lớn : '' Tất cả các phạm
nhơn bị kêu án trên ba năm tù giam, sẽ bị chuyễn đi phục vụ ở các trại
tập trung lao động khổ sai ở các vùng phía Đông và các vùng nơi phía
Nam để khai thác các tài nguyên thiên-nhiên của đất nước'', ý đồ này đả
được dự tính từ nhiều năm trước. Cơ quan Guépou đả hoạch định một
chương-trình lớn khai-thác '' cây gổ '' để xuất cảng ; vì lẻ trên
cơ-quan Guépou đả đòi hỏi nhiều lần Nha Đặc Trách các nhà tù phải cung
cấp thêm các tù nhơn để chuyển qua các trại '' đặc biệt '' ở Solovki,
vì năm 1928 con số tù ở nơi này chỉ có 38 000 người, không đủ để đãm
trách cho đạt được con số '' cây gổ '' mà cơ-quan Guépou đả đưa ra quá
cao.
Công việc sửa soạn cho kế hoạch 5 năm đả đặt lại trật tự vấn đề phân
phối nhân công và khai thác các vùng hẻo lánh khó sống nhưng lại có
nhiều tài nguyên thiên nhiên. Dưới diện này các người nhơn công không
dùng đang nằm trong các nhà tù, nếu được khai thác đúng độ có thể sẻ là
một nguồn lợi tức mới nếu việc kiễm soát và quản lý đúng đắn là thêm
một nguồn lợi tức, có ảnh hưởng cùng có thêm quyền lực. Các người lảnh
đạo cơ-quan Guépou, và riêng Menjinski và viên phụ tá là Iagoda, được
Staline ủng hộ đả đòng ý thức được các thành quả của việc này. Qua mùa
hè năm 1929, họ cho phát động một kế hoạch '' quá cao '' để khẩn hoang
một vùng rộng lớn gồm có 350 000 cây số vuông . Các khu rừng ( taiga )
ở vùng Narym-Sibérie thuộc về miền Tây. Họ không ngừng đòi thi hành đạo
luật ngày 27 tháng 6 năm 1929, và năm trong khuôn khổ các dẩn giải trên
mới nảy sinh ra ý-nghỉa tạo ra cuộc '' giải thể các người koulak '' vì
theo quan niệm của các giới chính thức là các người koulak sẽ chống lại
việc tập thể hóa nền nông nghiệp.
Nằm trong khuôn khổ nội bộ của Đảng Cộng-sản Nga, Staline và các người
đứng về phía của ông, đả cần một năm để thuyết-phục các thành viên khác
hưởng ứng kế hoạch của ông. Chính sách cưởng bách tập thể hóa nền
nông-nghiệp, chính sách '' giải thể các người koulak'', gia tăng tốc độ
phát-triển kỹ-nghệ, ba chính sách kể trên nằm trong một chương-trình
dính liền với nhau, để biến đổi một cách phủ phàng nền kinh tế và
xã-hội. Chương-trình này củng đưa đến việc dứt bỏ các cơ-cấu của nền
kinh-tế thị-trường và việc khai-thác các tài nguyên thiên-nhiên ở các
vùng hẻo lánh khó sống bằng sự cưởng bách lao động đối với cả triệu
người bị '' phóng truất - bị đày '', các người koulak bị giải thể, các
cuộc tịch thâu điền địa của nông dân và các '' nạn nhơn '' khác của
cuộc '' cách mạng thứ hai '' này.
Các người chống đối đường lối của chính sách do Staline đề ra là Rykov
et Boukharine. Hai người này coi việc tập thể hóa nền nông nghiệp là
trở về thời '' bốc lột quân sự-phong kiến '' các người nông dân ; việc
làm này sẽ đüa trở lại cuộc nội chiến phát động khủng bố, sự hổn độn sẽ
xảy ra và sau đó là nạn đói kém sẽ xuất hiện. Sang đến tháng 4 năm
1929, các phe chống đối bị khai trừ ra khỏi Đảng. Trong mùa Hè năm
1929, các phần tử '' hữu huynh '' bị đả kích hàng ngày trên các báo chí
và một '' chiến dịch báo chí '' mảnh liệt tố cáo rằng họ đả '' hợp tác
với các phần tử tư-bản và thông lượng với các bọn trốt-kít. Bị hoàn
toàn thất sủng, các đảng viên chống đối công khai đả làm bản tự kiễm
thảo vào tháng 12 năm 1929 tại cuộc họp các lảnh tụ của Ủy Ban Trung
Ương Đảng Cộng-sản Nga.
Trong lúc ở trên các lớp
đảng viên đang bàn thảo để coi ai theo, ai chồng lại về vấn đề hủy bỏ
chánh sách NEP do Lénine chủ xướng, thì Sô-viết đang lâm vào một cuộc
khủng hoảng kinh tế mỗi ngày mỗi trầm trọng thêm lên. Các thu
hoạch về canh nông của năm 1928-1929 đả giãm sút một cách thê thãm. Mặc
dầu đả dùng nhiều biện pháp cưởng chế đối với đoàn thể các người nông
dân như : phạt tiền rất nặng, bỏ tù những người nào từ chối bán các sản
phẫm của họ cho chính quyền, chiến dịch thu mua các nông sản của mùa
Đông 1928-1929 chỉ thu mua được một số lượng nông-sản ít hơn năm trước
và vì vậy đả tạo ra một bầu không khí '' căng thẳng '' ở các vùng nông
thôn. Cơ quan Guépou để kiễm kê, từ tháng Giêng năm 1928 cho đế tháng
12 năm 1929, đả xảy ra trước khi có việc cưởng bách thu mua. Có
1300 vụ quần chúng biểu tình và bạo động đả xảy ra ở các vùng nông thôn
tạo đến việc có cả chục ngàn người nông dân tham gia và bị bắt giam.
Một con số khác đả nói lên tình hình của nước Nga vào thời ấy : năm
1929 vào tháng 2 đả có 3200 cán bộ của chế độ Sô-viết đả là nạn nhơn
của các vụ bạo động ? Củng vào tháng 2 năm 1929, các thẻ tiếp tế lương
thực đả lại được '' tái cấp phát ''. Các thẻ tiếp tế này đả được hủy bỏ
khi nhà nước cộng-sản Sô-viết thi hành chính sách NEP vì để đáp ứng với
việc khan hiếm thực phẫm khi các Ủy Ban Sô-viết ra lịnh đóng cửa các
cửa hàng tiểu thương và các nhà tiểu công-nghệ lại bị coi là xí-nghiệp
tư-bản.
Đối với Staline, tình hình
nguy kịch của nền canh nông là do các hành động của các người Koulak,
và các thành phần chống đối khác, họ đang '' Âm mưu-đánh bằng mìn ''
vào chế độ sô-viết. Sự việc đả rỏ ràng để chọn lựa : Các tên ''
tư-sản nông-thôn '' hay các khu '' tập thể hóa nông-nghiệp '' tên gọi
là Kolkhozes. Tháng 6 năm 1929 chính phủ cho phát động toàn diện một
kế-hoạch '' tập thể hóa toàn bộ nông dân '' ; mục tiêu của kế-hoạch 5
năm này, là được xét lại để tăng lên, đả được Đại hội thứ 16 của Đảng
Cộng-sản chuẩn y. Kế-hoạch này dự định sẽ tập thể hóa 5 triệu trung
tâm, tức khoảng 20% các cơ sở sản-xuất, từ nay cho đến ngày kết thúc
kế-hoạch 5 năm. Qua đến tháng 6 người ta loan báo riêng cho năm 1930 sẽ
có 8 triệu trung tâm, rồi sang đến tháng 9 con số này lên đến 13 triệu
trung tâm. Mùa Hè năm 1929, chính quyền đả động viên vài chục ngàn
người đảng viên cộng-sản và các đoàn viên các nghiệp đoàn, các thanh
niên cộng-sản ( les komsomols ), các công nhơn và các sinh-viên, tất cả
đều được đưa đi về các vùng thôn quê, những nơi sản xuất ra lương thực
và đặt tất cả dưới sự hướng dẫn của các đảng viên địa phương và cơ quan
Guépou. Áp lực vào các người nông dân gia tăng lên ; các tổ chức địa
phương của Đảng thi đua để tranh các thành tích kỷ lục về việc '' tập
thể hóa ''. Ngày 31 tháng 10 năm 1929, báo Pravada loan báo đả hoàn
thành toàn bộ việc tập thể hóa không giới hạn các phong trào. Một tuần
lể sau, nhơn dịp kỷ niệm lần thứ 12 củ cuộc cách mạng tháng 10 năm
1917, Staline đả viết một '' bài báo phi thường '' dưới tựa đề : ''
Khúc quanh lớn '' căn cứ các điều sai lầm căn bản và nhận định : Các
người nông dân đả quay trở về các khu '' Tập thể hóa khai thác
nông-nghiệp Kolkhozes ''. Chính sách
NEP của Lénine đả bị cáo chung.
Xin
bấm vào số chương dưới đây để xem tiếp 
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| | |
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
|
|