Cho tôi một
hạt muối tiêu
Bờ môi em
nhạt nắng chiều lân la
Tôi đi chấn
chỉnh sơn hà
Hồng rơi vách đá mù sa thị thành
Donne-moi un
grain de sel et de poivre
Car la
lumière du soir
A fané les
commissures de tes lèvres
Je vais
réparer les erreurs de ma patrie
Alors que
tombe le démon rouge sur la falaise
Et que la
brume enveloppe la ville entière…
Cuộc đời của Thượng Tọa Tuệ Sỹ, thật tương tự cuộc đời vua Trần Nhân
Tông (1258-1308) thấm nhuần Phật Giáo ngay từ thuở thiếu thời, tham hiểu Thiền định dưới
sự dạy bảo của Tuệ Trung Thượng Sĩ (bút hiệu Tuệ Sỹ Thầy tự đặt lấy để
kính ngưỡng Ngài là Thiền Sư nhà Trần). Năm 36 tuổi, Điều Ngự Giác
Hoàng nhường ngôi cho Trần Anh Tông ; xuất gia năm 41 tuổi và viên
tịch tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử năm 1308, hưởng thọ 51
tuổi…
Nghìn năm
trước lên núi
Nghìn năm
sau xuống lầu
Hạt cải tròn
con mắt
Dấu chân
người ở đâu
Mille ans
avant j’escaladai la montagne
Mille ans
après j’en descends pour secourir les gens
Je t’ai
attendue en vain néanmoins
La pupille
de mes yeux te cherchant
Et les
empreintes de tes pieds
Où
sont-elles maintenant ?
Người hay em trong
Tĩnh Thất là mệnh danh đất nước
thương yêu, người tình của
Thiền Sư Tuệ Sỹ : Cũng như vua Trần Nhân Tông, Thượng Tọa không
những là một nhà biên khảo thông minh, một nhà văn uyên bác, một tư
tưởng triết gia lỗi lạc, một thi nhạc sĩ tài hoa mà còn là một nhà ái
quốc chân chính (đã nhiều lần - với
tinh thần bất khuất trước bạo tàn - chống cự cộng sản đang gieo rắc
tang tóc trên miền Nam tự do nên bị kết án tử hình năm 1984…).
Tương tự vua Trần Nhân Tông… đã tổ chức Hội Nghị tại Điện Diên Hồng (Thần Dân nghe chăng ? Sơn hà nguy
biến ! …), thực hiện đại đoàn kết nhân dân và triều đình,
viết một trang sử nước Nam huy hoàng, Thượng Tọa Tuệ Sỹ ôm mộng Trường
Sơn với ý chí kháng chiến của đồng bào hải ngoại cùng quốc nội và sự
chống đỡ của nhân quyền quốc tế, đặng giải thoát dân mình. Là môn đệ
tinh thần của Tuệ Trung Thượng Sĩ và cũng như Điều Ngự Giác Hoàng Nhân
Tông, Thiền sư đã tâm thức (theo bài của Tỷ Kheo Thích Chơn Thiện nói
về Trần Nhân Tông, tháng 03-2003) : « một thể cách giải
thoát thực hiện trong đời sống chính trị, xã hội rất thiết thực,
rất nhân bản và rất trí tuệ… » : Tình yêu đồng bào và đất
nước đối với Thầy, có thể đưa đến hy sinh cả cuộc đời :
Lặng
lẽ nằm im dưới đáy mồ ;
Không trăng không sao mộng vẩn vơ.
Tại sao người chết, tình không chết ?
Quay mấy vòng đời, môi vẫn khô
Một hai ba
những ngày quên lãng ;
Tôi vùi đầu trong lớp khói mù.
Khói và bụi
chen nhau thành tư tưởng ;
Nhưng bụi đường lêu lỏng bến thâm u…
Silencieusement mon corps repose au fond
de la tombe
Pas de lune, ni d’étoiles mais un rêve
vagabond
Pourquoi l’homme meurt-il, mais non
l’amour ?
De plusieurs vies j’ai beau faire le tour,
Mes lèvres sont aussi sèches.
Un deux trois
Tant de jours dans l’oubli ;
Je plonge ma tête dans la couche épaisse
de fumée,
Fumée et poussière
S’entremêlent en idées ;
Mais la poussière de rue en vagabondage
S’envole vers l’autre monde sans rivage.
Đúng như Paul Mus đã viết trong sách « Vietnam, sociologie d’une
guerre » (Việt Nam, xã hội học của một chiến tranh,
1952) : Mỗi khi nói
đến Việt Nam, cái câu để giải nghĩa vấn đề lịch sử, nằm đúng trong cái
tinh thần kháng cự, liên kết một cách nghịch thường với những năng lực
lạ lùng đồng hóa, một ý chí quốc dân không sờn trong thử thách của thất
bại, những cắt xẻ đất đai và những chinh phục lẫy lừng. Trong sứ
mệnh hòa hợp Đạo học và Thế học, Thiền Sư Tuệ Sỹ là gương mẫu trung
thành của cái tinh thần nước Việt (la vietnamité), có nghĩa là :
Một phương pháp tư tưởng, một cách viết, nói và hành động theo truyền
thống tổ tiên, đã làm cho nước ta hùng tráng với quyết chí vững bền bất
khuất phục trước một quyền lực độc tài trải qua những khúc quanh co của
một lịch sử đầy thống khổ. Cái tinh thần nước Việt này là di sản của
ông cha trong sự bất dịch của toàn dân :
Người đi đâu
bóng hình mòn mỏi
Nẽo tới lui
còn dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn nghìn
năm dợn sóng
Để người đi
không hẹn bến bờ
Où
allez-vous, voyageur usé par le temps ?
Un aller et
retour sur le même chemin
Tout en
laissant vos empreintes
De plus en
plus floues…
La voie de
l’histoire
De quatre
mille ans dans la tourmente
Vous laisse
partir dans votre errance
Sans esprit de retour.
Trong năm câu thơ trên, Thiền Sư có
ý trách móc những người tuy căm hận trước cảnh sông núi điêu tàn, đã từ
bỏ ý chí đấu tranh với mục đích tái lập dân chủ tự do cho đất nước và
một đời ấm no cho đồng bào. Như nhà thơ Nguyễn Huệ Nhật đã viết
(Nước Mắt Việt Nam 1999, Lời Ngỏ) : Tự thấy cá nhân mình quá bé nhỏ giữa một
giai đoạn lịch sử đen tối và vô cùng đau thương của dân tộc Việt Nam,
nhưng tôi không cảm thấy con người mình hoàn toàn bất lực trước những
trái ngang lịch sử đó. Với tinh thần vươn lên của dân tộc, tôi nghĩ
rằng chúng ta vẫn còn nhiều hy vọng cho thế hệ mai sau. Nỗi đau của Việt Nam là bài học
lịch sử cho cả dân tộc mình, nhà thơ Tuệ Sỹ không ngần ngại,
nói lên từ nơi ẩn dật cưỡng bách, nỗi lòng mình muốn hành động
cho dân tộc thoát khỏi bọn quỉ đỏ vô thần :
Giữa
Thiên đường rong chơi lêu lổng
Cõi vĩnh hằng mờ nhạt rong rêu
Ta đi xuống quậy trần hoàn nổi sóng
Đốt mặt trời vô hạn cô liêu
Au sein du Paradis je me promène en
vagabondage
L’éternité semblant légèrement assombrie
Par la mousse et les algues sauvages
Je decends sur terre
En remuant le monde de poussière
Pour le transformer en tsunami
Et
brûler le soleil rouge solitaire, à l’infini…
Sau ngày 30 Tháng Tư Năm 1975, Thiền Sư bị đày đi làm rẫy tại rừng núi
Vạn Giả : Đó cũng là cơ hội cho Thầy suy ngẫm (tự đáy lòng) về
phương cách giải thoát giang sơn tổ quốc đang quằn quại dưới chế độ áp
bức của độc tài đảng trị (Tôi đi chấn chỉnh sơn hà / Hồng rơi vách đá
mù sa thị thành)… « Tĩnh Thất » là một trường ca bút pháp
tinh về vận mệnh tổ quốc Việt Nam của một thiền sư sống ẩn dật trong
tâm tư (Voyage dans mon univers tranquille) : Ngoại cảnh (thời
gian đi làm rẫy, thời gian khổ sai, thời gian quản thúc từ 1998… )
không nao núng tinh thần yêu nước thương nòi của một môn đệ tinh thần
tu chứng của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thế kỷ thứ 13 (lý thuyết Đạo và
Đời) :
Ơ kìa
nắng đỏ hiên chùa
Trăng non rỏ máu qua mùa mãn tang
Áo thầy bạc thếch bụi đường
Khói rêu ố nhạt vách tường dựng kinh
Voilà du soleil sur la véranda de la pagode
La lune à peine apparue s’égoutte de sang,
la saison de deuil étant révolue
Votre toge, Maître, blanchit
en raison de tant de poussières de vie,
la fumée de
mousse décolorant le mur des Prières
Đất
nước lầm than, Thiền Sư sau những năm tù tội, nhìn thảm cảnh quê hương
trở thành một nhà tù vĩ đại, gông cùm cả một dân tộc bất khuất trước
một chế độ man rợ, lỗi thời…
Mười năm sau
anh băng rừng vượt suối
Tìm quê
hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói
nhạt như hồn ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn… (Những Năm Anh Đi, trong
« Giấc Mơ Trường Sơn »)
|
Cũng như trong « Tĩnh Thất »,
nhà chí sĩ đã diễn tả tinh thần chiến đấu của mình bằng thơ, nhẹ nhàng,
tuyệt vời :
Nghe luyến
tiếc như sao trời mơ ngủ
Đêm mênh
mông để lạc lối phù sinh
Ánh điện
đường vẫn nhìn trơ cửa sổ
Ngày mai đi
ta vẽ lại bình minh
Je m’attarde
aux vains regrets du passé
comme les
étoiles rêvent de dormir
dans la nuit
immense en se trompant de chemin
pour une vie
éphémère
Les
lampadaires des rues éclairant
impassiblemnt
les fenêtres fermées
Passé le
lendemain,
je
redessinerai l’aube de l’humanité…
Ngày mai đi ta vẽ lại bình minh : Thiền Sư Tuệ Sỹ đã tư tưởng và
hành
động theo lời giảng dạy của Hòa Thượng Sa Môn Thích Quảng Độ, Viện
trưởng Viện Hóa Đạo… : Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và
trong
cương vị Tăng Sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính
trị.
Nhưng
chúng tôi phải có thái độ chính trị.
Thái độ này thể hiện giáo lý nền tảng của đạo Phật, là cứu chúng sinh
ra khỏi mọi nạn ách, khổ đau để tạo điều kiện giác ngộ. Tuy không làm
chính trị, nhưng Giáo Hội ủng hộ mọi nỗ lực chính trị nhằm bảo vệ đất
nước, bảo vệ truyền thống văn minh nòi giống, âu lo cho mỗi con người
được sống đời no ấm, tự do, được hưởng trọn các quyền con người cơ
bản… Và nghe tiếng kêu gọi của sơn hà nguy biến :
Ta không
buồn,
Có ai buồn
hơn nữa ?
Người không
đi,
Sông núi có
buồn đi ?
Tia nắng
mỏng soi mòn khung cửa ;
Để ưu phiền
nhuộm trắng hàng mi.
Ta lên bờ,
nắng vỗ bờ róc rách,
Gió ở đâu mà
sông núi thì thầm ?
Kìa bóng cỏ
nghiêng mình che hạt cát
Ráng chiều
xa, ai thấy mộ sương dầm ?
Je ne suis
pas triste,
qui
peut être plus triste que moi ?
Tu ne pars
pas,
ton pays
n’ayant jamais l’intention de te quitter !
Les fragiles
rayons de lumière
éclairent en
élimant l’encadrement de ta porte
pour laisser
les chagrins blanchir mes sourcils.
Je monte sur
la rive,
le soleil
illuminant les eaux qui clapotent doucement.
Où est le
vent qui accompagne mon pays
dans son
chuchotement ?
Voilà
l’ombre inclinée de l’herbe
qui cache
les grains de sable
et les
nuages rouge pâle du soir arrivés,
qui peut
voir la tombe couverte de rosée ?
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ? Lẽ dĩ nhiên là hồng quân hay
xã
hội chủ nghĩa đã làm điêu đứng cả một dân tộc, phần đông nay rời cõi
đời vì ác nghiệt của quỉ đỏ xâm lăng… Khác hẳn với thi hào VICTOR HUGO
đã hận thù bạo tàn Nã Phá Luân Đệ Tam (trong phần hai thế kỷ 19) bằng
cách không trở lại cố hương ngày nào tự do chưa được hồi phục, nhà thơ
Tuệ Sỹ bị quản thúc tại quốc nội, chỉ diễn tả nỗi sầu vương, một cách
nhẹ nhàng, thấm thía, của mình, nhưng qua mấy vần thơ… gián tiếp huy
động đồng bào hãy tỉnh thức :
Cho xin chút
hạt buồn thôi ;
Để cho ngọn
gió lên đồi rắc mưa.
Gió qua ngõ
phố mập mờ ;
Mưa rơi đâu
đó mấy bờ cỏ lau.
Nắng trưa
phố cổ úa màu,
Tôi đi qua
mộng đồi cao giật mình…
Donnez-moi
un peu de tristesse seulement
Pour que le
vent se lève sur la colline environnante
en répandant
la pluie.
Le vent
souffle à travers l’impasse diffuse ;
La pluie
tombe çà et là sur les touffes d’herbe et de roseau.
Le soleil de
midi brillant sur la cité ancienne de couleur fanée,
Je marche à
travers mon rêve
tout en haut
de la colline en tressautant…
Xem dưới góc cạnh này, Thiền Sư Tuệ Sỹ là một nhà thơ « lãng mạn » mà theo
Victor Hugo (Tựa kịch bản Hernani) là một « chủ nghĩa tự do trong
văn chương », vừa thuộc vào hạng biểu hiện (expressionnisme) nghĩa là một hình
thức nghệ thuật mà giá trị của miêu tả nằm toàn trong sự biểu lộ tâm
tình cực điểm, và hạng ấn tượng (impressionnisme)
với đôi nét chấm phá, nhưng lời thơ đượm tình cảm, thấm thía, làm độc
giả rung động, bâng khuâng :
Chờ dứt cơn
mưa ta vô rừng
Bồi hồi nghe
khói lạnh rưng rưng
Ngàn lau
quét nắng lùa trên tóc
Ảo ảnh vô
thường, một thoáng chưng ?
J’attends
que la pluie ait cessé pour entrer dans la forêt
Afin
d’écouter avec émotion la fumée froide se réchauffer
Et les
touffes de roseaux balayer le soleil qui pénètre dans tes cheveux ;
Illusion
extraordinaire,
Qui nous
apparaît en l’espace d’un instant ?
Hoặc đầy
nhung nhớ, dịu êm :
Anh đi để
trống cụm rừng
Có con suối
nhỏ canh chừng sao Mai
Bóng anh dẫm
nát điện đài
Ôi nỗi buồn
Thần tiên
vĩnh cửu
Nhớ luân hồi
Cát bụi đỏ
mắt ai
Vous partez
en laissant vide une partie de la forêt
Où le
ruisseau veille en permanence
Sur l’Étoile
du Matin
Et votre
ombre écraser palais et châteaux
Ô ma
tristesse
Dans le
monde légendaire de l’immortalité
Ô ma
nostalgie de la métempsycose
Dans
laquelle sable et poussière rendent tes yeux rouges ?
Trường ca « Tĩnh Thất » có thể dịch Pháp ngữ là « Méditations d’un Ermite »
mà trong đó Thiền Sư ẩn sĩ đã gom góp nỗi lòng mình đối với tổ quốc mà
Thầy xem như một người tình yêu dấu. Tương tự LAMARTINE trong thi tập
« Méditations Poétiques » (1820) và qua bài LE LAC (Hồ Kỷ
Niệm) đã thốt
tự đáy lòng nỗi đau khổ của mình khi nhắc nhớ lại người xưa (vừa mất)
với những giờ hạnh phúc đã trải qua trên cái hồ lãng mạn bây giờ vắng
bóng :
Ôi thời
gian, xin đừng bay, đứng lại !
Và những giờ
thuận tiện không vận hành
Cho chúng ta
thưởng thức không ngần ngại
Ngày hạnh
phúc mau chóng thuở xuân xanh !
Đất nước thương yêu của ta bây giờ ở đâu ? Chịu đựng một cuộc
đời nô lệ
đã từ lâu mà sao em chưa nỗi dậy chống bạo tàn ? Thời gian qua…
Thời
gian không trở lại :
Khói ơi bay
thấp xuống đi
Cho ta nắm
lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong
cõi vĩnh hằng
Nhớ tàn cây
nhỏ mấy lần rụng hoa
Ô fumée,
vole encore plus bas
Pour que je
puisse retenir par la main
Un peu de ma
jeunesse
Je marche
dans le monde supraterrestre
En pensant à
mon petit arbre flétri
Qui perd ses
fleurs maintes fois depuis.
Lê Mộng Nguyên
PARIS – Saint Hippolyte (01 avril 2006)
* Nhạc sĩ, Giáo sư- Tiến sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính trị, Viện sĩ Hàn
Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp, nguyên Luật sư Tòa Thượng Thẩm Paris
** Copyright 2006 by Lê Mộng Nguyên (Paris-France
|